CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về doanh nghiệp Doanh nghiệp là một bộ phận quan trọng cấu thành nền kinh tế, có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Theo định nghĩa của Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế, doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán. Theo Luật Công ty Việt Nam (1999), doanh nghiệp là các đơn vị kinh doanh được thành lập với mục đích chủ yếu là thực hiện các hoạt động kinh doanh, đó là việc thực hiện một hay một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hay thực hiện dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.
Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng có một số định nghĩa “Doanh nghiệp là tổ tổ chức được thành lập nhằm mục đích kinh doanh dưới hình thức các loại hình công ty (Hữu Đức , 2021). Cùng với đó một số tác giả khác lại định nghĩa về doanh nghiệp được đưa ra “ Doanh nghiệp là là tổ chức là tổ chức kinh tế có tên riêng , có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” (Vũ Duy Hào, 2016 ). Theo giáo trình Tài chính học của Học viện ngân hàng của tác giả Lê Thị Diệu Huyền và Mai Thanh Quế (2019) cũng đồng quan điểm “doanh nghiệp là một chủ thể kinh tế độc lập ,có tư cách pháp nhân ,hoạt động kinh doanh trên thị trường,xuất phát từ những tiêu thức khác nhau,tồn tại các loại hình doanh nghiệp khác nhau.” Tóm lại ,doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế độc lập,có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, có tư cách pháp nhân hoặc không , được thành lập hoặc đăng ký thành lập nhằm mục đích kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm đạt các mục tiêu nhất định.2 Các loại hình doanh nghiệp a, Xét trên góc độ cung cầu về vốn Doanh nghiệp được chia thành doanh nghiệp tài chính và doanh nghiệp phi tài chính ,trong đó ,doanh nghiệp tài chính là doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ như công ty bảo hiểm,ngân hàng thương mại,công ty chứng khoán. Doanh 4 nghiệp phi tài chính là doanh nghiệp chủ yếu sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và cung ứng các dịch vụ trên thị trường như doanh nghiệp sản xuất hàng hóa tiêu dùng ,doanh nghiệp sản xuất cơ khí ,điện lạnh.Trên thực tế, các doanh nghiệp phi tài chính cũng có thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính (đầu tư tài chính).
b, Theo ngành nghề kinh doanh Trong nền kinh tế, có thể phân thành 6 loại hình doanh nghiệp cơ bản: Doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp – thủy sản, thương mại – dịch vụ, giao thông vận tải, xây dựng và các doanh nghiệp khác (như tài chính, bảo hiểm…). Những doanh nghiệp hoạt động trong ngành thương mại, dịch vụ thì vốn lưu động chiếm tỷ trọng cao hơn, tốc độ chu chuyển của vốn lưu động cũng nhanh hơn so với các ngành nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp nặng. Ở các ngành này, vốn cố định thường chiếm tỷ lệ cao hơn vốn lưu động, thời gian thu hồi vốn cũng chậm hơn Những doanh nghiệp sản xuất ra những loại sản phẩm có chu kì sản xuất ngắn thì nhu cầu vốn lưu động giữa các thời kì trong năm thường không có biến động lớn, doanh nghiệp cũng thường xuyên thu được tiền bán hàng, nhờ đó có thể dễ dàng bảo đảm cân đối giữa thu và chi bằng tiền, cũng như đảm bảo nguồn vốn cho nhu cầu kinh doanh. Ở các doanh nghiệp hoạt động trong ngành công nghiệp hay xây dựng có chu kì sản xuất sản phẩm dài, phải ứng ra những lượng vốn lớn nên chủ yếu sẽ sử dụng vốn dài hạn để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình.
Những doanh nghiệp trong ngành nông nghiệp – thủy sản có rủi ro cao nên thường huy động vốn ở nhiều kênh đa dạng khác nhau. Việc phân chia các loại hình doanh nghiệp theo ngành nghề kinh doanh là cơ sở cho việc ước tính hệ số bêta phản ánh mức rủi ro của từng ngành nghề, từng doanh nghiệp. c, Xét theo góc độ sở hữu doanh nghiệp chia thành 3 loại hình căn bản: Doanh nghiệp tư nhân: Là một tổ chức kinh doanh được sở hữu bởi một cá nhân hoặc một hộ gia đình hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận của chính người chủ doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân có trách nhiệm vô hạn và toàn bộ tài sản của doanh 5 nghiệp có thể sử dụng để làm hài lòng các chủ nợ không chỉ đơn thuần là khoản tiền đầu tư ban đầu.
Doanh nghiệp hợp danh: bao gồm hai hoặc nhiều hơn hai chủ sở hữu , cùng vận hành kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận. Các doanh nghiệp hợp danh thường hoạt động trên lĩnh vực tài chính, bảo hiểm và bất động sản. Trong điều khoản chung , các thành viên hợp danh có trách nhiệm vô hạn hoặc có thể nói mỗi thành viên đều phải có trách nhiệm về mặt pháp lý cho tất cả các khoản nợ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cổ phần : là một pháp nhân được tạo bởi luật pháp và thường được gọi là thực thể pháp lý.
Chủ sở hữu doanh nghiệp cổ phần là các cổ đông, những người sở hữu một phần vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp hay sở hữu những cổ phiếu thường hoặc cổ phiếu ưu tiên trong một số trường hợp. Khái quát về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản Somia Alfatih và cộng sự ( 2015) định nghĩa một tài sản được ghi nhận là bất kỳ mặt hàng nào được sở hữu để sử dụng lâu dài và ngắn hạn, trong tất cả các hoạt động kinh tế của một tổ chức. Charles Oppenheim và cộng sự (2003) tin rằng tài sản là những vật chất mang lại lợi ích kinh tế trong tương lai cho tổ chức.
Bên cạnh đó Theo viện từ điển và khoa học bách khoa toàn thư Việt Nam định nghĩa : “Tài sản là thuật ngữ kế toán kinh doanh chỉ tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của nhà nước; có thể được dùng để trả nợ, sản xuất ra hàng hoá hay tạo ra lợi nhuận bằng cách nào đó. Một tài sản có ba đặc tính không thể thiếu: lợi nhuận kinh tế có thể xảy ra trong tương lai; do một thực thể hợp pháp kiểm soát; thu được kết quả ngay từ hợp đồng kinh doanh hoặc giao dịch đầu tiên.” Cùng với đó trong một nghiên cứu khác tác giả cũng đưa ra tiếp một số khái niệm về tài sản. Định nghĩa tài sản được bởi Amadi-Echendu (2008): “một thực thể có khả năng tạo ra, duy trì hoặc phá hủy giá trị ở bất kỳ giai đoạn nào trong vòng đời. Một tài sản có thể được định nghĩa là một thứ gì đó có thể có giá trị kinh tế, giá trị thương mại hoặc giá trị trao đổi, thuộc sở hữu của các tổ chức kinh doanh, tổ chức hoặc cá nhân (Siregar, Doli D.
Lê Văn Luyện ( biên soạn,2011) cho rằng : “Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai. Tài sản là nguồn lực do doanh nghiệp kiểm soát và có thể thu được lợi ích kinh tế 6 trong tương lai. Lợi ích kinh tế trong tương lai của một tài sản là tiềm năng làm tăng nguồn tiền và các khoản tương đương tiền của doanh nghiệp hoặc làm giảm bớt các khoản tiền mà doanh nghiệp phải chi ra”. Bên cạnh đó Điều 172 của Bộ luật Dân sự Việt Nam quy định: “Tài sản bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bảng tiền và các quyền tài sản'.
Nguyễn Văn Phi ( 2022) cũng đồng tình rằng : tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thật , hữu hình hoặc vô hình , gồm tiền tài và giấy tờ có giá trị các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định và mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.” Tóm lại tài sản là bất kỳ nguồn lực nào được sở hữu hoặc kiểm soát bởi một doanh nghiệp hay thực thể kinh tế là kết quả của các giao dịch trong quá khứ. Nó là tất cả những thứ được dùng với mục đích sản xuất ra tạo ra giá trị lợi ích kinh tế tích cực trong tương lai. Tài sản là quyền sở hữu có thể được chuyển thành tiền (mặc dù tiền cũng có thể coi là một loại tài sản. Nó bao gồm tiền tệ và các giá trị thuộc sở hữu của cá nhân và doanh nghiệp.
Vì vậy tài sản bao gồm những dạng vật chất khác nhau. Chúng được doanh nghiệp quản lý và sử dụng phục vụ cho mục đích sản xuất, tiêu dùng đem lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp. Đặc tính này cũng quyết định tầm quan trọng của tài sản đối với hoạt động sản xuất – kinh doanh của doanh nghiệp. Một doanh nghiệp lớn hay nhỏ, không thể tồn tại và phát triển lâu dài nếu không có tài sản.
Chính vì vậy, cần thực hiện quản lý tài sản để những tài sản đó đem lại lợi ích cao nhất cho chủ sở hữu doanh nghiệp.2 Phân loại tài sản Tài sản doanh nghiệp được phân làm hai loại : Tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. a, Tài sản ngắn hạn : Theo Nguyễn Năng Phúc (2013), “Tài sản ngắn hạn là tài sản tồn tại và sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn, thường được sử dụng trong các đơn vị, tổ chức sử dụng để lưu thông, sản xuất, đầu tư ngắn hạn”[14, tr15]. Theo Theo Thông tư 200/TT-BTC: “Tài sản ngắn hạn là tài sản phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình 7 thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo”.Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thái tiền, hiện vật (vật tư, hàng hóa), dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu.
Cũng như tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn là một bộ phận không thể thiếu trong mỗi doanh nghiệp.