Chương 1. Cơ sở luận lý luận về tài sản ngắn hạn và hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Chương 2. Thực trạng hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Hùng Vương Chương 3. Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn tại Công ty cổ phần Hùng Vương 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI SẢN NGẮN HẠN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN CỦA DOANH NGHIỆP 1.Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1.
Khái niệm tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp - Tài sản của doanh nghiệp: Theo Luật Doanh nghiệp, 2014: “Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, hữu hình hoặc vô hình gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích cho doanh nghiệp đó” [16, tr2]. Tài sản của doanh nghiệp là các nguồn lực hiện có của doanh nghiệp, thể hiện dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định. Tài sản có thể là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra và tích lũy được trước và trong quá trình sản xuất kinh doanh, cũng có thể là những của cải thiên nhiên ban cho như đất đai, khoáng sản… thuộc sở hữu của một chủ thể nhất định. - Phân loại tài sản trong doanh nghiệp Có nhiều cách để phân loại tài sản như: + Theo hình thái biểu hiện, tài sản trong doanh nghiệp bao gồm: Tài sản hữu hình và Tài sản vô hình.
+ Theo nguồn hình thành, tài sản bao gồm: Tài sản được tài trợ bởi vốn chủ sở hữu và Tài sản được tài trợ bởi vốn nợ. + Theo đặc điểm về thời gian sử dụng, tài sản gồm: Tài sản ngắn hạn và Tài sản dài hạn. + Theo tính chất tuần hoàn và luân chuyển, tài sản được chia thành: Tài sản cố định và Tài sản lưu động. - Tài sản ngắn hạn 10 TSNH là bộ phận quan trọng, bộ phận tài sản này không ngừng vận động góp phần đảm bảo quá trình SXKD của doanh nghiệp được diễn ra liên tục.
Cho đến nay đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm khác nhau về TSNH, dưới đây là một số khái niệm điển hình: Theo Ngô Thế Chi (2010) “TSNH là những tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi vốn phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng, những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc kế toán năm được gọi là TSNH. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng, những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc kế toán năm được gọi là TSNH” [9, tr13]. Theo Nguyễn Năng Phúc (2013), “Tài sản ngắn hạn là tài sản tồn tại và sử dụng trong một khoảng thời gian ngắn, thường được sử dụng trong các đơn vị, tổ chức sử dụng để lưu thông, sản xuất, đầu tư ngắn hạn” [14, tr15].
Theo Theo Thông tư 200/TT-BTC: “Tài sản ngắn hạn là tài sản phản ánh tổng giá trị tiền, các khoản tương đương tiền và các tài sản ngắn hạn khác có thể chuyển đổi thành tiền, có thể bán hay sử dụng trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh bình thường của doanh nghiệp tại thời điểm báo cáo”. Như vậy, xem xét trên tất cả các phương diện ta có thể kết luận về TSNH như sau: TSNH à nh ng tài sản có thời gian sử dụng, uân chuyển giá trị trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. TSNH uân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một ần và đư c thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng uân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh. Phân loại tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp Để có thể sử dụng tài sản ngắn hạn một cách hiệu quả thì phân loại tài sản ngắn hạn theo những tiêu thức khác nhau là rất cần thiết.
Người ta sử dụng các tiêu thức khác nhau để phân loại TSNH tùy thuộc vào mục tiêu của nhà quản lý. Bùi Văn Vần và Vũ Văn Ninh (2015) đưa ra hai tiêu thức phân loại chủ yếu thường được sử dụng: Phân loại theo hình thái biểu hiện và phân loại theo vai trò của tài 11 sản ngắn hạn đối với quá trình sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó, cũng có một số tiêu thức khác để phân loại TSNH. Phân loại theo hình thái biểu hiện * Tiền và các khoản tương đương tiền - Tiền: bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển.
Tiền là loại tài sản có tính thanh khoản cao nhất, đứng đầu tiên bên tài sản trên bảng cân đối kế toán. Loại tài sản này có thể dễ dàng chuyển đổi thành các tài sản khác hoặc thanh toán các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp, bởi vậy nó cho phép doanh nghiệp duy trì khả năng chi trả và phòng tránh rủi ro thanh toán. Tuy nhiên, đây cũng là loại tài sản không hoặc gần như không sinh lợi bởi vậy việc giữ tiền mặt ở mức độ nào để vừa đảm bảo an toàn vừa tiết kiệm vốn lại là một câu hỏi quan trọng cần nhà quản trị tài chính quan tâm giải quyết, không quá nhỏ để đảm bảo khả năng thanh toán cũng như không quá lớn để tránh lãng phí, ứ đọng vốn trong doanh nghiệp. - Các khoản tương đương tiền: là các khoản đầu tư ngắn hạn có thời gian thu hồi hoặc đáo hạn không quá 3 tháng có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong quá trình chuyển đổi thành tiền kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo.
* Các khoản đầu tư tài ch nh ngắn hạn: Là các khoản đầu tư của doanh nghiệp ra bên ngoài được thực hiện dưới hình thức cho vay, cho thuê, góp vốn liên doanh, mua bán chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu, tín phiếu,…) có thời gian sử dụng, thu hồi vốn không quá một năm hoặc một chu kì kinh doanh, không bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn có thời hạn thu hồi hoặc đáo hạn không quá ba tháng, kể từ ngày mua khoản đầu tư đó tại thời điểm báo cáo đã được tính vào “ khoản tương đương tiền”. Khi có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này. * Các khoản phải thu: Là toàn bộ các khoản mà doanh nghiệp có nghĩa vụ phải thu từ các đối tượng khác: phải thu từ khách hàng, phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác và dự phòng các khoản phải thu khó đòi. 12 Trong các doanh nghiệp, việc mua bán chịu là thường xuyên xảy ra, đôi khi để thực hiện các điều khoản trong hợp đồng kinh tế doanh nghiệp phải trả trước một khoản nào đó, từ đây nó hình thành nên các khoản thu của doanh nghiệp.
Khi các khách trả nợ của doanh nghiệp gặp thất bại, rủi ro trong kinh doanh là nguyên nhân làm phát sinh các khoản nợ khó đòi. Vì vậy, việc trích lập các khoản dự phòng là cần thiết, nó sẽ đảm bảo cho các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành bình thường và tương đối ổn định. Khoản chi dự phòng này là một bộ phận trong khoản phải thu và là một phần tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp * Hàng tồn kho: bao gồm toàn bộ hàng hóa vật liệu, nguyên liệu đang tồn tại ở các kho, quầy hàng hoặc trong xưởng. Các doanh nghiệp không thể tiến hành sản xuất đến đâu mua hàng đến đó mà cần có nguyên vật liệu dự trữ.
Trên thực tế hàng tồn kho bao gồm hàng trăm loại khác nhau, tuy nhiên có thể phân thành các nhóm chính sau: - Hàng tồn kho trong khâu dự trữ: bao gồm vật tư dự trữ. Đây là các loại nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật đóng gói và công cụ, dụng cụ phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. - Hàng tồn kho trong khâu sản xuất: bao gồm các sản phẩm dở dang (sản phẩm đang chế tạo) - Hàng tồn kho trong khâu tiêu thụ: bao gồm thành phẩm. Đây là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
Tác dụng của phân loại theo hình thái biểu hiện. Cho phép doanh nghiệp xem xét đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp, biết được kết cấu tài sản lưu động theo hình thái biểu hiện để có hướng điều chỉnh hợp lý và hiệu quả * Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm các khoản tạm ứng chưa thanh toán, chi phí trả trước và các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn hạn,… - Các khoản tạm ứng là các khoản tiền hoặc vật tư do doanh nghiệp giao cho người nhận tạm ứng để thực hiện hoạt động kinh doanh nào đó hoặc giải quyết một công việc đã được phê duyệt. 13 - Chi phí trả trước là các khoản chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác dụng đến kết quả hoạt động của nhiều kỳ thanh toán, cho nên chưa thể tính vào chi phí sản xuất kinh doanh một kỳ mà được tính cho hai hay nhiều kỳ hạch toán. Như vậy, qua cách phân loại như trên ta thấy được tình hình tài sản ngắn hạn hiện có của doanh nghiệp về hình thái vật chất cũng như đặc điểm của từng loại tài sản ngắn hạn, để có thể đánh giá việc sử dụng tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp có hợp lý và hiệu quả không, từ đó phải tăng cường các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn.
Phân loại theo vai trò của TSNH trong quá trình sản xuất kinh doanh Theo tiêu thức này, Tài sản ngắn hạn được chia thành các loại chủ yếu sau: * Tài sản ngắn hạn dự tr : - Nguyên vật liệu chính hay bán thành phẩm mua ngoài: là những nguyên vật liệu khi tham gia vào sản xuất sẽ cấu tạo nên thực thể sản phẩm.