LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề cơ bản về tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản ngắn hạn Doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải trả lời ba câu hỏi: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai và sản xuất như thế nào. Trong nền kinh tế thị trường như hiện nay, dưới sức ép cạnh tranh gay gắt, các doanh nghiệp đều phải tự giải đáp cho mình những câu hỏi trên với mục đích cuối cùng đó là quản lý ra sao, đưa ra những kế hoạch phát triển thế nào để doanh nghiệp thu về lợi nhuận tối đa.
Tài sản là giá trị cơ bản mà doanh nghiệp cần có trong quá trình sản xuất kinh doanh. Do đó, quản lý tài sản là một trong những nội dung quan trọng trong quản trị tài chính. Mục tiêu hướng tới của việc quản lý tài sản là đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ổn định và đạt hiệu quả kinh tế cao nhất. Để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp một cách hiệu quả, ngoài những tài sản dài hạn thì những tài sản ngắn hạn là một phần không thể thiếu giúp cho quá trình sản xuất, kinh doanh được diễn ra thường xuyên và liên tục.
Trong doanh nghiệp tài sản ngắn hạn gồm: tài sản ngắn hạn trong khâu lưu thông và tài sản ngắn hạn trong khâu sản xuất. Mọi doanh nghiệp muốn tiến hành sản xuất kinh doanh đều cần chú trọng quản lý tài sản ngắn hạn sao cho hợp lý để đạt được hiệu quả kinh doanh tốt nhất. So với tài sản dài hạn, tài sản ngắn hạn quay vòng nhanh hơn, vì thế việc quản lý tài sản ngắn hạn có quyết định không nhỏ đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp. Tùy theo loại hình doanh nghiệp mà cơ cấu tài sản ngắn hạn khác nhau để phù hợp với mô hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Từ những phân tích trên thì đây là khái niệm đầy đủ nhất về tài sản ngắn hạn: “Tài sản ngắn hạn (TSNH) là những tài sản thuộc quyền sở hữu và quản lý của doanh nghiệp, có thời gian sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong một chu kỳ kinh doanh hoặc trong một năm. Trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp, tài sản ngắn hạn được thể hiện ở các bộ phận tiền mặt, các chứng khoán thanh khoản cao, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phải thu, dự trữ tồn kho và các tài sản ngắn hạn khác. Giá trị các loại TSNH của doanh nghiệp kinh doanh, sản xuất thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tài sản của chung. Quản lý sử dụng hợp lý các loại TSNH có ảnh hưởng rất quan trọng đối với việc hoàn thành nhiệm vụ chung của doanh nghiệp.
Đặc điểm của tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn là những tài sản thường xuyên luân chuyển trong quá trình sản xuất kinh doanh, giúp duy trì hoạt động sản xuất liên tục, ổn định và không bị gián đoạn. Vì thế tài sản ngắn hạn có những đặc điểm như sau: Thứ nhất, tài sản ngắn hạn biểu hiện qua các hình thái khác nhau như: tiền, các khoản tương đương tiền, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và các tài sản khác. Những khoản mục này tương ứng như sau: tiền và các tài sản tương đương tiền hay chứng khoán khả thị đảm bảo khả năng thanh toán cho doanh nghiệp, hàng tồn kho được sử dụng trong khâu sản xuất kinh doanh, các khoản phải thu khách hàng dùng để ghi nhận các khoản tín dụng thương mại, các tài sản ngắn hạn khác dùng để tạm ứng, chi trả các khoản chi phí trả trước và thế chấp, ký quỹ ngắn hạn,… Thứ hai, tài sản ngắn hạn thường luân chuyển trong một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh, nó vận động luân chuyển không ngừng trong mọi quá trình sản xuất kinh doanh, TSNH như tiền mặt, hàng tồn kho thường được sử dụng trong một chu kỳ kinh doanh, phân biệt với tài sản dài hạn như thiết bị, máy móc,…thường được dùng trong nhiều năm và trích khấu hao. Do đó nó hoàn thành một vòng tuần hoàn sau mỗi chu kỳ kinh doanh.
Thứ ba, tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ, vì thế nó đáp ứng kịp thời khả năng thanh toán khi doanh nghiệp cần. Tuy nhiên, điều này lại gây khó khăn, trở ngại cho quản lý trong việc chuyển đổi, dễ bị thất thoát do sự chệnh lệch giá trị trong từng thời điểm quy đổi tài sản ngắn hạn. Thứ tƣ, tài sản ngắn hạn tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh với tư cách là tư liệu lao động hoặc đối tượng lao động. Thứ năm, tài sản ngắn hạn có thời gian sử dụng ngắn, toàn bộ giá trị tài sản ngắn hạn được thu về sau khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh.
Thứ sáu, lợi nhuận đầu tư vào tài sản ngắn hạn là lợi nhuận gián tiếp. Tài sản ngắn hạn thường thay đổi hình thái vật chất ban đầu để tạo thành thực thể của sản phẩm. Điển hình như doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho dùng với mục đích sản xuất thường qua một quá trình biến đổi để thành thành phẩm - hàng hóa hoàn chỉnh trước khi được bán ra thị trường. Dựa trên các đặc điểm cơ bản của tài sản ngắn hạn, doanh nghiệp hiểu được những đặc thù đặc trưng của tài sản ngắn hạn, từ đó đưa ra các cách thức quản lý hiệu quả, hợp lý cho tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp.
2 Thang Long University Library 1. Phân loại tài sản ngắn hạn Trong quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, dựa trên tính chất vận động của tài sản ngắn hạn, có thể phân loại tài sản ngắn hạn như sau: 1. Phân loại tài sản ngắn hạn theo lĩnh vực tham gia luân chuyển: Theo tiêu chí này thì tài sản ngắn hạn được chia thành 3 loại: Tài sản ngắn hạn sản xuất: bao gồm các tài sản dự trữ cho quá trình sản xuất như nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu,…và tài sản trong sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… Tài sản ngắn hạn lưu thông: là các tài sản dự trữ trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp gồm: thành phẩm, hàng gửi bán và các tài sản trong quá trình lưu thông như các khoản phải thu, vốn bằng tiền. Tài sản ngắn hạn tài chính: là những khoản đầu tư tài chính ngắn hạn với mục đích sinh lời gồm: đầu tư chứng khoáng ngắn hạn, đầu tư liên doanh… Với cách phân chia này, giúp doanh nghiệp xác định tỷ trọng tài sản ngắn hạn trong từng khâu.
Do đó, nhà quán lý sẽ kịp thời điều chỉnh khi xuất hiện những dấu hiệu bất ổn trong việc phân bổ ở các khâu. Đặc biệt trong khâu lưu thông, khi tỷ trọng tài sản ngắn hạn tăng lên đồng nghĩa với doanh nghiệp đang bị ứ đọng vốn. Phân loại tài sản ngắn hạn theo mục đích sử dụng trong công tác quản lý doanh nghiệp Công tác quản lý doanh nghiệp gồm cả quản lý hành chính và quản lý kinh doanh. Tài sản ngắn hạn được sử dụng gồm: Công cụ, dụng cụ văn phòng phẩm: bút, mực, giấy, bàn, ghế,… Vật liệu cho văn phòng, cho các phương tiện vận tải.
Khoản tạm ứng: tiếp khách, hội nghị, đào tạo nhân viên,… Phân loại theo cách thức này giúp doanh nghiệp quản lý được các chi phí bỏ ra cho quản lý hành chính và kinh doanh, từ đó cân đối các khoản chi sao cho hợp lí nhất, tiết kiệm nhất. Phân loại tài sản ngắn hạn theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán Căn cứ theo các khoản mục trên bảng cân đối kế toán, tài sản ngắn hạn bao gồm: tiền và các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, khoản phải thu khách hàng, hàng tồn kho và tài sản ngắn hạn khác. 3 Tiền và các khoản tƣơng đƣơng tiền (Cash and cash equivalents): thuộc khoản mục 110 của bảng cân đối kế toán, là chỉ tiêu tài chính có tính thanh khoản cao nhất trong mục tài sản ngắn hạn của bảng cân đối kế toán. Tiền bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi, tiền đang chuyển và các khoản tiền gửi không kỳ hạn.
Tiền mặt là số vốn bằng tiền do thủ quỹ bảo quản tại quỹ (két) của doanh nghiệp bao gồm: Tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng bạc, đá quý, kim cương quý, tín phiếu và ngân phiếu. Tiền gửi là số tiền mà doanh nghiệp gửi tại các ngân hàng, kho bạc nhà nước hoặc các công ty tài chính bao gồm: Tiền Việt Nam, các loại ngoại tệ, vàng bạc, đá quý,…Tiền đang chuyển là khoản tiền mặt, tiền séc đã xuất khỏi quỹ của doanh nghiệp đã nộp vào Ngân hàng, Kho bạc Nhà nước, đã gửi vào Bưu điện để trả cho các đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo của Ngân hàng.33-45] Tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn (không quá 3 tháng), có khả năng chuyển đổi dễ dàng thành một lượng tiền xác định và không có nhiều rủi ro trong việc chuyển đổi thành tiền. Tuy không phải là tiền mặt, nhưng do khả năng chuyển đổi thành tiền dễ dàng nên các khoản tương đương tiền vẫn được trình bày trong bảng cân đối kế toán cùng với tiền mặt trong khoản mục “Tiền và các khoản tương đương tiền”. Đầu tƣ tài chính ngắn hạn (Short-term financial investment): là chỉ tiêu tài sản ngắn hạn thuộc khoản mục 120 trong bảng cân đối kế toán, chỉ tiêu này phản ánh giá trị thực của các khoản đầu tư tài chính như đầu tư vào chứng khoán ngắn hạn và đầu tư ngắn hạn khác và dự phòng giảm giá các khoản đầu tư.
Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn này không bao gồm các khoản đầu tư ngắn hạn là tiền gửi dưới 3 tháng (đã trình bày ở phần “Tương đương tiền”). Đây là khoản vừa có khả năng sinh lời vừa có tính thanh khoản cao. Trong đầu tư ngắn hạn, việc đầu tư cho các chứng khoán có tính thanh khoản cao hết sức quan trọng, nó được sử dụng để duy trì tiền mặt ở mức độ mong muốn. Nếu số dư tiền mặt lớn, doanh nghiệp có thể sử dụng đầu tư chứng khoán, nhưng khi cần thiết có thể chuyển đổi thành tiền dễ dàng và ít tốn kém.
Khi doanh nghiệp có nhu cầu thanh toán mà tiền không đáp ứng đủ thì doanh nghiệp sẽ bán các chứng khoán này.