Chương 1: TỔNG QUAN VỀ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm, bản chất, vai trò của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp Điều 4, Luật Doanh nghiệp năm 2005 có định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh” [24] Doanh nghiệp có vị trí đặc biệt quan trọng của nền kinh tế, là bộ phận chủ yếu tạo ra tổng sản phẩm trong nước. Những năm gần đây, hoạt động của doanh nghiệp đã có bước phát triển nhanh chóng, góp phần giải phóng sức sản xuất, huy động và phát huy nội lực vào phát triển kinh tế xã hội, góp phần vào tăng trưởng chung của nền kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngân sách và tham gia giải quyết có hiệu quả các vấn đề xã hội như: Tạo việc làm, xoá đói, giảm nghèo… Hoạt động của các doanh nghiệp mở rộng trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nhiều loại hình doanh nghiệp được phép thành lập và hoạt động theo quy định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư. Trong các loại hình doanh nghiệp, phổ biến hiện nay là loại hình công ty. Doanh nghiệp còn có vai trò quyết định đến chuyển dịch các cơ cấu lớn của nền kinh tế như: Cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu kinh tế giữa các vùng, địa phương. Doanh nghiệp phát triển, đặc biệt là DN ngành công nghiệp tăng nhanh là nhân tố đảm bảo cho việc thực hiện các mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nâng cao hiệu quả kinh tế, giữ vững ổn định và tạo thế mạnh hơn về năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong quá trình hội nhập.
Có thể nói vai trò của DN không chỉ quyết định sự phát triển bền vững về mặt kinh tế mà còn quyết định đến sự ổn định và lành mạnh hoá các vấn đề 5 xã hội, thực tế đó đã được phản ảnh qua kết quả hoạt động của DN sẽ được phân tích ở phần sau. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp “Hiệu quả sản xuất kinh doanh có thể hiểu là một phạm trù kinh tế biểu hiện tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực (nhân lực, vật lực, nguồn vốn…) và chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh” [9, 26] Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hiện nay được đánh giá trên hai phương diện là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp phản ánh sự đóng góp của doanh nghiệp vào việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân. Còn hiệu quả xã hội của doanh nghiệp được biểu hiện thông qua hoạt động góp phần nâng cao trình độ văn hoá xã hội và lĩnh vực thoả mãn nhu cầu hàng hoá - dịch vụ, góp phần nâng cao văn minh xã hội…Tiêu chuẩn của hiệu quả xã hội là sự thoả mãn nhu cầu có tính chất xã hội trong sự tương ứng với các nguồn nhân tài, vật lực ảnh hưởng tới mục đích đó.
Hiện nay hiệu quả xã hội của hoạt động kinh doanh được đánh giá thông qua các biện pháp xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có khi mâu thuẫn, có khi thống nhất với nhau. Ví như trường hợp doanh nghiệp có lãi thì đời sống nhân viên được cải thiện, đồng thời doanh nghiệp sẽ nộp ngân sách để thực hiện các mục tiêu xã hội như: Xây dựng công trình công cộng, xoá đói giảm nghèo…. Như vậy, doanh nghiệp vừa đạt được hiệu quả kinh doanh vừa đạt hiệu quả xã hội.
Nếu doanh nghiệp có hiệu quả kinh tế kém thì cũng không đạt được hiệu quả xã hội. Đối với doanh nghiệp Nhà nước được giao nhiệm vụ kinh doanh nhằm mục đích phục vụ hải đảo, miền núi thì chi phí rất cao làm cho giá thanh toán trở thành đặc biệt, cao hơn giá thị trường chấp nhận hoặc giá chỉ đạo của Nhà nước do đó doanh nghiệp sẽ thua lỗ. Vì vậy, doanh nghiệp không đạt được hiệu quả kinh tế, nhưng thực hiện được hiệu quả xã hội. Tuy nhiên 6 việc xác định hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội chỉ là tương đối vì có thể chỉ tiêu phản ánh đồng thời hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.
Vì vậy, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thì không chỉ đánh giá hiệu quả kinh tế một cách độc lập mà còn xem xét cả hiệu quả xã hội. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì quá trình hoạt động kinh doanh phải đem lại hiệu quả. Và điều mà các doanh nghiệp quan tâm nhất là hiệu quả kinh tế bởi vì có hiệu quả kinh tế thì doanh nghiệp mới tồn tại và phát triển được. Trong khoá luận này, khi nói đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh tác giả chỉ xét trên phương diện hiệu quả kinh tế.
Ta có thể mô tả hiệu quả kinh tế bằng công thức sau: Hkt = (1.1) Trong đó: Hkt: Hiệu quả kinh tế Ka: Kết quả đạt được Ha: Hao phí các nguồn lực cần thiết gắn với kết quả đạt được 1. Vai trò của hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp Sản xuất kinh doanh có hiệu quả thể hiện qua năng suất lao động và tiết kiệm nguồn lực lao động xã hội. Vì vậy sản xuất kinh doanh có hiệu quả có vai trò rất lớn đối với doanh nghiệp. Năng suất lao động và số lượng lao động là hai mặt có mối quan hệ mật thiết của hiệu quả kinh tế.
Chính việc khan hiếm nguồn lực và việc sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội, đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm nguồn lực. Đồng thời khi tiến hành hoạt động, mỗi doanh nghiệp lại đặt ra mục tiêu lợi nhuận, lợi nhuận càng cao càng tốt. 7 Để tiến hành bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào con người cũng cần phải kết hợp yếu tố con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với mục tiêu trong chiến lược và kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình trên cơ sở nguồn lực sẵn có. Để thực hiện điều đó bộ phận quản trị doanh nghiệp sử dụng rất nhiều công cụ trong đó có công cụ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh.
Việc xem xét và tính toán hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không những chỉ cho biết việc sản xuất đạt được ở trình độ nào mà còn cho phép các nhà quản trị tìm ra các nhân tố để đưa ra những các biện pháp thích hợp trên cả hai phương diện tăng kết quả và giảm chi phí kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả. Bản chất của hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, do đó xét trên phương diện lý luận và thực tiễn, phạm trù hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh quả đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, so sánh, phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Với vai trò là phương tiện đánh giá và phân tích kinh tế, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng ở mức độ tổng hợp, đánh giá chung trình độ sử dụng đầu vào ở toàn bộ doanh nghiệp mà còn đánh giá được trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn doanh nghiệp cũng như đánh giá được từng bộ phận của doanh nghiệp. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 1.
Phương pháp đánh giá Để tiến hành đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh, tác giả sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp loại trừ để phân tích các chỉ số liên quan đến chỉ tiêu tài sản, nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận, thu nhập của người lao động. Phương pháp so sánh: Dùng để so sánh mức độ biến động tuyệt đối và mức độ biến động tương đối của các chỉ tiêu qua các công thức [2, 192] 8 Biến động tuyệt đối : ∆ = C1 - C0 Biến động tương đối: % ∆ = x 100 Trong đó: C là số liệu hàng năm của chỉ tiêu cần so sánh. Phương pháp loại trừ: Dùng để xác định biến động của từng nhân tố đến kết quả kinh doanh bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác. Đây là phương pháp sử dụng phổ biến trong thống kê.
Các chỉ tiêu đánh giá 1. Chỉ tiêu lợi nhuận Đây là chỉ tiêu tổng hợp, theo chỉ tiêu này, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh được biểu hiện chủ yếu dưới dạng lợi nhuận mà doanh nghiệp đạt được trong kì: Tổng lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí (1.2) Căn cứ vào số lợi nhuận cụ thể đạt được, doanh nghiệp có thể đánh giá được hoạt động có lãi tuy nhiên lợi nhuận chỉ là 1 chỉ tiêu, còn có hiệu quả hay không thì còn phụ thuộc vào các chỉ tiêu cụ thể kinh tế khác. Phương pháp xác định lợi nhuận này có ưu điểm là tính toán đơn giản, thuận tiện do vậy dễ thực hiện song cũng có nhiều nhược điểm như không cho phép đánh giá được hết chất lượng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và không so sánh được kết quả giữa các năm hoặc giữa các doanh nghiệp. Thứ hai, phương pháp xác định qua lợi nhuận không phản ánh được chất lượng sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp, cũng như không phản ánh được bản chất của các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh (qui mô, cơ cấu, lợi thế kinh doanh…) 1.
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận Lợi nhuận tuyệt đối có thể không phản ánh đúng mức độ hiệu quả của sản xuất kinh doanh vì chỉ tiêu này không chỉ chịu sự tác động của bản thân chất lượng công tác của doanh nghiệp mà còn chịu ảnh hưởng của qui mô sản 9 xuất của DN. Vì vậy, để đánh giá đúng kết quả kinh doanh của DN cần phải sử dụng chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận. + Tỷ suất lợi nhuận trên tổng doanh thu (DT thuần) được tính như sau: Ts = (1.