CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ, DUY TU, BẢO DƯỠNG ĐƯỜNG Ô TÔ. Giới thiệu hệ thống quản lý và tổ chức khai thác giao thông đường bộ ở Việt Nam và thành phố Hồ Chí Minh. Hệ thống quản lý và tổ chức khai thác giao thông đường bộ ở Việt Nam. Đường bộ có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh quốc phòng.
Trong quá trình khai thác, sử dụng, đường bộ cần phải được bảo trì theo yêu cầu kỹ thuật. Trong những năm qua, Chính phủ cũng đã quan tâm bố trí vốn cho công tác quản lý, bảo trì đường bộ, tuy nhiên nguồn vốn này mới chỉ đáp ứng được khoảng gần 40% nhu cầu quản lý bảo trì đối với hệ thống quốc lộ và khoảng 20-30% nhu cầu quản lý bảo trì đối hệ thống đường bộ địa phương Giao thông vận tải là mạch máu của nền kinh tế quốc dân, nối liền thành thị với nông thôn, nối liền các khu công, nông nghiệp với nhau, nối liền nước ta với các nước bạn, phục vụ cho sự hoạt động của các ngành kinh tế, văn hoá, chính trị, quốc phòng và sự đi lại của nhân dân. Hoạt động bảo trì đường là một phần của vòng đời công trình xây dựng đường bộ. Tuy nhiên, thời gian qua, không ít công trình giao thông trọng điểm chỉ thời gian ngắn sau khi hoàn thành đưa vào sử dụng đã xuống cấp nghiêm trọng, không chỉ làm tốn tiền đầu tư của Nhà nước, mà còn gây khó khăn cho các địa phương, cơ quan chức năng trong việc bảo trì, bảo dưỡng định kỳ.
Công tác Quản lý khai thác và bảo trì đường là một hoạt động có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và đóng vai trò mấu chốt nhằm mục đích quản lý đường (hệ thống công trình giao thông đường bộ) ở thời kỳ khai thác (vận hành) để công trình đường có thể đảm bảo hoạt động bình thường theo chức năng vốn có của nó; Bên cạnh đó, hoạt động sửa chữa, bảo dưỡng còn có mục đích nhằm duy trì tiêu chuẩn kỹ thuật của đường đang khai thác. Không phải trong chúng ta ai cũng có thể hiểu rõ và biết được đặc điểm của công tác quản lý, khai thác đường bộ là một công việc có nội dung rộng, bao 6 gồm nhiều mảng, nhiều công tác quản lý khác nhau. Điều này đòi hỏi phải có sự phối hợp một cách chặt chẽ, nhịp nhàng và đồng bộ trong một hệ thống thì mới có thể phát huy được hiệu quả cao nhất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội cho đất nước, đảm bảo hài hòa lợi ích của cộng đồng. Quản lý khai thác đòi hỏi mức độ sử dụng kỹ thuật hiện đại theo yêu cầu về chất lượng kỹ thuật công trình và chất lượng kỹ thuật giao thông.
Quản lý khai thác đường cần phải được xem như là một dịch vụ tổng hợp, đáp ứng tối đa mọi yêu cầu về giao thông: đi lại, ăn uống, nghỉ ngơi, kỹ thuật sửa chữa, cung ứng xăng dầu …và ngay cả dịch vụ theo yêu cầu (đặc biệt là đối với giao thông đường dài). Với những đặc điểm như trên, nhiệm vụ của công tác quản lý khai thác đường thực chất là: - Đảm bảo một cơ cấu điều hành, hoạt động quản lý một cách hợp lý có năng lực và hiệu quả. Tổ chức bộ máy theo đúng chức năng hoạt động. - Bảo vệ, bảo trì kết cấu hạ tầng đường bộ luôn ở mức đạt yêu cầu.
- Bảo đảm chất lượng kỹ thuật giao thông theo yêu cầu “Giao thông, an toàn, thuận tiện và kinh tế” ở các mức độ khác nhau. - Không ngừng đưa tiến bộ khoa học vào các nội dung quản lý: số liệu đầu vào, kỹ thuật công trình, kỹ thuật giao thông và xây dựng luật, tiêu chuẩn có liên quan. Hiện nay nước ta đang áp dụng cơ cấu quản lý khai thác đường theo mô hình sự nghiệp, đây là mô hình quản lý tập trung theo kế hoạch, đơn vị hoạt động theo hình thức vốn sự nghiệp, các đơn vị thành viên thuộc Nhà nước quản lý. Với cách quản lý này thực tế cho thấy bộ máy quản lý còn rất cồng kềnh, số lượng cán bộ, công nhân viên rất đông nhưng hiệu quả lại thấp, không tạo được sự cạnh tranh trong công tác quản lý, công tác thực hiện duy tu, sửa chữa thường xuyên, gây thất thoát và lãng phí rất lớn vốn ngân sách nhà nước; ví dụ như: Hàng năm Nhà nước giao kế hoạch phân bổ vốn quản lý, duy tu, sửa chữa thường xuyên các tuyến đường, sau khi được phân bổ vốn các đơn vị này tìm mọi cách để sử dụng hết số tiền đã phân bổ hoặc đề xuất bổ sung thêm kế hoạch vào những tháng cuối năm…, trong khi thực tế công trình không cần sử dụng hết số vốn đó.
7 Thực tế hiện hiện nay, ngoài mô hình quản lý sự nghiệp nêu trên, còn có hai mô hình quản lý khác là: - Quản lý theo doanh nghiệp: Dưới cơ quan quản lý Nhà nước là các doanh nghiệp; doanh nghiệp tự chủ về mọi mặt, thuận lợi về vấn đề khai thác vận hành, tự chủ kinh doanh, nhưng khó khăn khi gặp những vấn đề liên quan đến quản lý hành chính như bảo vệ, an toàn giao thông, ban hành quy chế; - Quản lý theo mô hình Công ty hóa đơn vị sự nghiệp: Đơn vị này có một phần là hoạt động theo quản lý sự nghiệp, cơ cấu tổ chức, quản lý hành chính, nhưng quản lý kinh doanh thì theo hình thức doanh nghiệp. Ngoài ra khi phân loại theo nội dung quản lý, còn có 02 mô hình: - Mô hình vừa quản lý xây dựng, vừa quản lý khai thác; - Mô hình quản lý xây dựng, quản lý khai thác. Nói tóm lại, có thể nói hệ thống quản lý và tổ chức khai thác đường bộ hiện nay của Việt Nam gồm có các cơ quan sau : - Bộ giao thông vận tải. - Tổng cục Đường bộ Việt Nam.
- Các Cục Quản lý đường bộ. - Các Sở Giao thông vận tải các tỉnh (thay cho các Đoạn QL-BD đường bộ cũ) - Các Công ty quản lý và sửa chữa đường bộ (thay cho các Cung quản lý bảo dưỡng đường bộ trước đây) - Các Hạt quản lý bảo dưỡng đường bộ.1 Bộ Giao thông vận tải: Là cơ quan quản lý cấp Nhà nước cao nhất, có chức năng quản lý chung, có trách nhiệm lập kế hoạch, phương hướng giải quyết và đầu tư để dựa trên đó các cơ quan, đơn vị địa phương thực hiện việc bảo dưỡng và khai thác đường bộ được hợp lý nhất. Tổng cục đường bộ Việt Nam. Hệ thống quản lý và tổ chức khai thác giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện được thể hiện qua cơ cấu tổ chức, vị trí, chức năng và nhiệm vụ của các bộ phận trong Tổng cục Đường bộ Việt Nam.
8 Tổng cục Đường bộ Việt Nam có những nhiệm vụ và quyền hạn cơ bản sau đây : Căn cứ vào phương hướng, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước, xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ trong phạm vi cả nước để Bộ trưởng giao thông vận tải trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; Xây dựng các dự án luật, các văn bản dưới luật, các chính sách, chế độ, các quy trình quy phạm và quy chế quản lý Nhà nước về chuyên ngành đường bộ (bao gồm cả vận tải chuyên dùng, vận tải quá cảnh) để Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải trình Chính phủ quyết định hoặc Bộ trưởng ban hành theo thẩm quyền. Ban hành các tiêu chuẩn, định mức kinh tế kỹ thuật thuộc chuyên ngành đường bộ theo thẩm quyền của Tổng cục và hướng dẫn thực hiện; Trình Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải quyết định việc phân công, phân cấp quản lý các cơ sở hạ tâng giao thông đường bộ, các tuyên đường bộ; trực tiếp quản lý hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ do Trung ương quản lý trong phạm vi cả nước; Làm chủ quản đầu tư các công trình giao thông thuộc cơ sở hạ tầng chuyên ngành đường bộ phận do Trung ương quản lý theo phân cấp; Công bố hệ thông giao thông đường bộ, công bô quy định chủng loại và cơ giới, tải trọng xe kích thước và đặc tính kỹ thuật khác của xe có liên quan tới kết cấu đường theo quy định của pháp luật; Thiết lập và quản lý hệ thống báo hiệu đường bộ, cấp phép việc xây dựng các công trình vượt đường hoặc các công trình có liên quan đến kết cấu đường; cấp phép sử dụng, khai thác hoặc đình chỉ việc sử dụng khai thác trên các tuyến đường bộ. Quy định điều kiện, tiêu chuẩn và cấp phép, giấy phép hành nghề vận tải, đại lý vận tải thuộc chuyên ngành đường bộ; quy định và tô chức đăng ký hành chính các phương tiện vận tải đường bộ đối với các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế trong cả nước (kể cả các tổ chức và cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam); xét duyệt cấp phép cải tạo, sửa đổi các phương tiện vận tải 9 đường bộ; tham gia với các cơ quan Nhà nước có liên quan quy định việc xuất, nhập khẩu các phương tiện giao thông vận tải đường bộ; Kiểm tra, thanh tra an toàn giao thông và vận tải đường bộ, phối hợp với các cơ quan có liên quan và chính quyên địa phương để bảo vệ các công trình giao thông đường bộ, đảm bảo an toàn vận tải, xử lý các vụ vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, các tai nạn giao thông trên các tuyến đường bộ trong phạm vi cả nước; Tổ chức chỉ đạo nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ thuộc chuyên ngành đường bộ. Tổ chức thu các loại lệ phí giao thông và vận tải đường bộ theo uỷ nhiệm của Bộ Tài chính; Đề xuất với Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải việc tham gia (hoặc không tham gia) các công ước quốc tế, việc ký kết các hiệp định, các Nghị định thư về đường bộ theo quy định của Chính phủ; Đào tạo, bồi dưỡng lái xe, công nhân kỹ thuật thuộc chuyên ngành đường bộ; Thành lập, giải thể các cơ quan giúp việc Tổng Cục trưởng và các đơn vị sự nghiệp; quản lý Nhà nước trực tiếp các doanh nghiệp Nhà nước về đường bộ trực thuộc Tổng Cục theo quy định của pháp luật; 1.
Cục quản lý đường bộ. Cục quản lý đường bộ là đơn vị quản lý cơ sở của Tổng cục Đường bộ, chịu trách nhiệm tổ chức quản lý mạng lưới đường quốc lộ trong phạm vi của mình (vài nghìn km).