Tổng quan nghiên cứu

Hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Việt Nam đóng vai trò đặc biệt xung yếu đối với công tác bảo vệ bờ biển, phòng chống bão lũ và điều hòa vi khí hậu dọc theo chiều dài hơn 3.260 km bờ biển quốc gia. Tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, diện tích rừng ngập mặn đạt 2.238,95 ha phân bố rộng khắp trên địa bàn 19 xã, phường. Hệ thống rừng này tạo nên một vành đai xanh phòng hộ che chắn trực tiếp cho tuyến đê biển dài 34 km với cao trình 5,5 m, bảo đảm an toàn tính mạng, tài sản và sinh kế cho hơn 8.000 người dân sinh sống tại khu vực đảo Hà Nam trước các hiện tượng thời tiết cực đoan và triều cường dâng cao.

Tuy nhiên, áp lực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, mở rộng hệ thống cảng biển và gia tăng diện tích nuôi trồng thủy sản quảng canh trên 8.000 ha đầm bãi đã khiến diện tích rừng ngập mặn chịu nhiều biến động bất lợi. Chất lượng rừng suy giảm, cấu trúc tán cây bị phân mảnh và sự chồng chéo trong thẩm quyền quản lý đất lâm nghiệp giữa ngành Nông nghiệp và ngành Tài nguyên - Môi trường đặt ra thách thức lớn đối với công tác bảo tồn. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng diện tích, đặc điểm lâm sinh và hiệu quả quản lý bảo vệ rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên trong giai đoạn 2013-2017, từ đó xây dựng hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm duy trì diện tích rừng phòng hộ ven biển hiện chiếm 38,02% tổng diện tích đất có rừng toàn thị xã (tương đương 1.187,31 ha). Đề tài cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc giúp chính quyền địa phương củng cố hệ thống đê kè, ổn định môi trường sinh thái và thúc đẩy phát triển kinh tế biển bền vững.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết quản trị tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng và mô hình đồng quản lý, vốn đã chứng minh tính hiệu quả vượt trội tại nhiều khu bảo tồn đất ngập nước ven biển. Kết hợp với đó là lý thuyết sinh thái cảnh quan và chức năng điều tiết của hệ sinh thái đất ngập nước theo định hướng của Công ước Ramsar năm 2004 và các báo cáo hiện trạng rừng ngập mặn toàn cầu của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc.

Các khái niệm trọng tâm được chuẩn hóa bao gồm: đai rừng phòng hộ ngập mặn chắn sóng, mô hình lâm - ngư kết hợp bền vững, tổ thành loài cây tiên phong và sức tải sinh thái vùng triều. Khung khổ pháp lý của đề tài dựa trên Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2005, Luật Đất đai năm 2013, Quyết định số 667/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về chương trình củng cố hệ thống đê biển với quy định bề rộng đai rừng ngập mặn tối thiểu 500 m, cùng Chỉ thị số 85/2007/CT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về trồng rừng chắn sóng ven biển.

Phương pháp nghiên cứu

Để bảo đảm tính chuẩn xác và đại diện cao của dữ liệu lâm sinh, nghiên cứu thiết lập hệ thống 15 ô tiêu chuẩn điển hình ngoài thực địa với diện tích 400 m2 mỗi ô (kích thước 20m x 20m) trên các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi và rừng trồng. Phương pháp chọn mẫu điển hình có chủ đích được áp dụng nhằm bao quát các vị trí xung yếu ven sông Chanh, sông Bạch Đằng và trong các đầm nuôi trồng thủy sản. Toàn bộ cây thân gỗ có đường kính ngang ngực từ 5 cm trở lên được đo đếm chi tiết về đường kính thân (đo tại vị trí 1,3 m hoặc phía trên hệ rễ gọng vó đối với loài Đước), chiều cao vút ngọn và tọa độ định vị vệ tinh GPS.

Nghiên cứu kết hợp điều tra xã hội học với cỡ mẫu 45 phiếu phỏng vấn bán định hướng, bao gồm 30 người dân địa phương trực tiếp canh tác ven rừng và 15 cán bộ quản lý chuyên trách thuộc Hạt Kiểm lâm, Phòng Kinh tế và Ủy ban nhân dân các xã, phường. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm tích hợp dữ liệu định lượng về mật độ, độ tàn che, tổ thành loài với dữ liệu định tính về xung đột chính sách, tập quán khai thác và năng lực thực thi pháp luật. Toàn bộ dữ liệu thứ cấp được kế thừa từ hồ sơ theo dõi diễn biến rừng giai đoạn 2013-2017 của Hạt Kiểm lâm thị xã Quảng Yên. Thời gian thực hiện các đợt khảo sát thực địa và phỏng vấn chuyên sâu diễn ra từ tháng 4 năm 2018 đến tháng 11 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực địa đã ghi nhận 07 loài cây ngập mặn thân gỗ chủ yếu thuộc 6 họ thực vật, bao gồm: Mắm biển, Cóc vàng, Giá, Sú, Vẹt dù, Đước vòi và Bần chua. Hệ thực vật tại đây thích nghi cao với điều kiện thổ nhưỡng mặn và chế độ nhật triều đều có biên độ triều từ 3 m đến 4 m.

Mật độ lâm phần trung bình trên 15 ô tiêu chuẩn đạt 2.553 cây/ha, dao động phổ biến từ 960 đến 4.410 cây/ha với chiều cao bình quân đạt 3,27 m. Tại các bãi bồi ngoài đê gần cửa sông Chanh và sông Bạch Đằng, Bần chua thể hiện ưu thế sinh thái tuyệt đối, chiếm 100% tổ thành loài với chiều cao vượt trội từ 8,9 m đến 9,3 m. Ngược lại, tại khu vực đầm nuôi thủy sản và các bãi triều phía trong, quần xã thực vật có cấu trúc hỗn giao đa tầng gồm Đước vòi (chiếm 72,8%), Sú (chiếm 42,4%), Giá (chiếm 13%) và Vẹt dù (chiếm 22,4%).

Về mặt động thái không gian, diện tích rừng ngập mặn từng sụt giảm liên tục từ năm 2013 đến năm 2016 (có thời điểm diện tích đất có rừng chỉ còn khoảng 1.112 ha) do chuyển đổi đất làm đầm nuôi tôm và xây dựng hạ tầng công nghiệp. Đến năm 2017, tổng diện tích ghi nhận phục hồi đạt 2.238,95 ha nhờ các diện tích trồng mới giai đoạn 2012-2014 bắt đầu khép tán và đạt tiêu chuẩn thành rừng. Tuy nhiên, công tác bảo vệ đối mặt với nguy cơ suy thoái nghiêm trọng khi 100% diện tích rừng trong các đầm thủy sản bị ảnh hưởng bởi kỹ thuật tháo cạn nước và phơi đầm dài ngày của người dân, cùng với hiện tượng xói lở bờ kênh tại Cái Tráp và sự tồn tại của nhiều khoảnh rừng manh mún có quy mô dưới 0,5 ha.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng suy thoái và phân mảnh rừng bắt nguồn từ mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa nuôi trồng thủy sản ngắn hạn và bảo vệ hệ sinh thái rừng dài hạn. Thói quen tháo kiệt nước đầm để thu hoạch tôm cua và phơi khô bùn đáy làm thay đổi độ mặn, khiến rễ cây ngập mặn bị nghẹt và chết hàng loạt. Hơn nữa, sự thiếu thống nhất giữa quy hoạch đất đai của ngành Tài nguyên - Môi trường và quy hoạch 3 loại rừng của ngành Nông nghiệp tạo ra khoảng trống pháp lý, khiến nhiều diện tích rừng bị xâm lấn hợp thức hóa thành mặt nước nuôi thủy sản.

Kết quả này tương đồng với các phát hiện tại các vùng ven biển Hải Phòng và bán đảo Cà Mau, nơi việc phát triển đầm tôm tự phát từng phá hủy nghiêm trọng cấu trúc đai rừng phòng hộ chắn sóng. Các dữ liệu cấu trúc lâm phần trong nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ cột phân bố mật độ theo từng cấp chiều cao và biểu đồ tròn thể hiện tỷ lệ tổ thành loài ưu thế giữa hai khu vực trong đê và ngoài đê. Việc mô hình hóa dữ liệu này làm nổi bật vai trò phòng hộ độc tôn của Bần chua ngoài cửa sông và sự cần thiết phải bảo tồn quần xã hỗn giao Đước - Sú - Vẹt trong nội đồng.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực quản lý và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên, 4 nhóm giải pháp trọng tâm cần được triển khai đồng bộ:

  • Hoàn thiện cơ chế chính sách và mở rộng mô hình đồng quản lý: Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên phối hợp với Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành quy chế giao khoán rừng ngập mặn gắn liền với quyền lợi phát triển mô hình lâm - ngư kết hợp bền vững. Mục tiêu đến năm 2021 đạt 100% số hộ nhận khoán ký cam kết duy trì tỷ lệ che phủ của cây ngập mặn tối thiểu từ 40% đến 50% diện tích mặt nước trong đầm nuôi tôm.
  • Tích hợp và thống nhất dữ liệu quy hoạch đất lâm nghiệp: Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng Hạt Kiểm lâm thị xã tiến hành rà soát, cắm mốc ranh giới và số hóa 100% hồ sơ địa chính của 2.238,95 ha rừng ngập mặn trong giai đoạn 2019-2020, xóa bỏ hoàn toàn tình trạng chồng chéo giữa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thủy sản và đất rừng phòng hộ.
  • Áp dụng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phục hồi rừng: Hạt Kiểm lâm chủ trì triển khai kế hoạch trồng dặm, phục hồi 150-200 ha rừng phòng hộ chắn sóng xung yếu tại các khu vực bãi bồi sạt lở như kênh Cái Tráp và dọc đê biển đảo Hà Nam giai đoạn 2019-2025. Ưu tiên sử dụng cây giống bản địa chất lượng cao gồm Bần chua, Đước vòi, Vẹt dù nhằm đạt tỷ lệ cây sống trên 85% sau 3 năm chăm sóc.
  • Tăng cường tuần tra, giám sát và ứng dụng công nghệ viễn thám: Ủy ban nhân dân 19 xã, phường kiện toàn các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng, phối hợp với kiểm lâm địa bàn tăng tần suất kiểm tra tại các đầm thủy sản. Đặt mục tiêu giảm 90% số vụ chặt phá cây Giá lấy tro và xử lý triệt để các hành vi tự ý chặt đốn cây để cơi nới bờ bao đầm bãi từ năm 2019 trở đi.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước về lâm nghiệp và đất đai: Bao gồm Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ninh, Hạt Kiểm lâm thị xã Quảng Yên và Phòng Tài nguyên - Môi trường. Tài liệu cung cấp số liệu thực chứng để xây dựng quy hoạch phân khu chức năng, phân định ranh giới quản lý đất rừng và thiết lập phương án bảo vệ đê biển Hà Nam.
  • Cán bộ nghiên cứu, giảng viên và học viên chuyên ngành Quản lý tài nguyên rừng: Cung cấp phương pháp luận chuẩn xác về điều tra 15 ô tiêu chuẩn lâm sinh ven biển, phương pháp đánh giá cấu trúc tổ thành loài thực vật ngập mặn và bộ chỉ số phân tích xã hội học phục vụ các công trình nghiên cứu chuyên sâu.
  • Các tổ chức phi chính phủ và ban quản lý dự án bảo tồn thiên nhiên: Là tài liệu tham khảo giá trị trong việc xây dựng các dự án phục hồi rừng ngập mặn, thiết lập mô hình đồng quản lý tài nguyên và giải quyết các xung đột sinh kế tại vùng duyên hải Đông Bắc Bộ.
  • Cộng đồng dân cư và các hợp tác xã nuôi trồng thủy sản ven biển: Hướng dẫn kỹ thuật điều tiết nguồn nước trong đầm, các phương thức bảo vệ cây sú vẹt để cải thiện môi trường nước, phòng chống dịch bệnh và nâng cao năng suất tôm cua sinh thái.

Câu hỏi thường gặp

Hệ thống rừng ngập mặn tại thị xã Quảng Yên có quy mô diện tích và đặc trưng loài như thế nào? Tổng diện tích rừng ngập mặn trên địa bàn thị xã đạt 2.238,95 ha, phân bố tại 19 xã, phường. Thảm thực vật bao gồm 07 loài cây gỗ chính thuộc 6 họ, trong đó Bần chua, Đước vòi, Sú và Vẹt dù là các loài chiếm tỷ lệ tổ thành vượt trội, giữ vai trò lá chắn sóng bảo vệ hệ thống đê điều xung yếu.

Tại sao có sự khác biệt rõ rệt về cấu trúc rừng giữa khu vực cửa sông và trong đầm thủy sản? Khu vực bãi bồi cửa sông chịu sóng gió mạnh và ngập triều sâu nên chỉ có loài tiên phong rễ thở khỏe như Bần chua chiếm 100% tổ thành (chiều cao 8,9 - 9,3 m). Trong khi đó, vùng đầm phía trong được che chắn sóng nên phát triển quần xã hỗn giao đa loài gồm Đước, Sú, Vẹt và Giá.

Nguyên nhân chính khiến diện tích rừng ngập mặn suy giảm trong giai đoạn 2013-2016 là gì? Sự sụt giảm diện tích xuất phát từ việc chuyển đổi tự phát đất rừng sang đầm nuôi tôm công nghiệp, xây dựng công trình cảng biển và tình trạng tháo cạn nước đầm dài ngày làm nghẹt rễ cây. Ngoài ra, sự chồng chéo trong quản lý đất đai giữa lâm nghiệp và tài nguyên môi trường cũng làm chậm trễ việc ngăn chặn vi phạm.

Phương pháp điều tra lâm sinh nào được áp dụng để bảo đảm tính chuẩn xác của số liệu? Tác giả thiết lập 15 ô tiêu chuẩn đại diện diện tích 400 m2 mỗi ô ngoài thực địa, sử dụng định vị GPS xác định ranh giới và đo đếm 100% cây gỗ có đường kính từ 5 cm trở lên. Kết quả đo đếm được tổng hợp để tính toán mật độ trung bình đạt 2.553 cây/ha và chiều cao bình quân 3,27 m.

Giải pháp nào mang tính đột phá để hài hòa giữa nuôi tôm và bảo vệ rừng ngập mặn? Giải pháp cốt lõi là triển khai cơ chế đồng quản lý và giao khoán rừng gắn với nghĩa vụ duy trì 40% đến 50% diện tích rừng trong đầm nuôi thủy sản. Quy trình kỹ thuật mới buộc người nuôi phải duy trì mực nước ổn định, kết hợp nuôi tôm sinh thái dưới tán rừng để tạo sinh kế lâu dài.

Kết luận

  • Luận văn đã định lượng toàn diện hiện trạng 2.238,95 ha rừng ngập mặn tại 19 xã, phường của thị xã Quảng Yên, khẳng định vai trò sống còn của đai rừng phòng hộ đối với sự an toàn của tuyến đê biển dài 34 km.
  • Đề tài xác định được cấu trúc lâm sinh của 07 loài cây ngập mặn thân gỗ chính với mật độ bình quân 2.553 cây/ha, làm nổi bật ưu thế sinh thái của Bần chua ngoài bãi bồi và quần xã hỗn giao Đước - Sú trong nội đầm.
  • Nghiên cứu chỉ rõ các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp gây suy thoái rừng, đặc biệt là tập quán tháo kiệt nước đầm nuôi thủy sản và sự chồng lấn trong phân cấp quản lý đất đai.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đã được đề xuất cụ thể về chính sách đồng quản lý, chuẩn hóa mốc giới địa chính, ứng dụng kỹ thuật phục hồi rừng bãi bồi và hiện đại hóa công tác tuần tra.
  • Công trình đóng góp bộ cơ sở dữ liệu thực địa tin cậy, làm tiền đề khoa học cho chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế biển bền vững tại tỉnh Quảng Ninh.

Trong giai đoạn 24 tháng tới, chính quyền địa phương cần ưu tiên phê duyệt quy chế phối hợp liên ngành và thực hiện thí điểm mô hình giao khoán rừng ngập mặn kết hợp nuôi tôm sinh thái. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và người dân hãy cùng chung tay áp dụng những khuyến nghị từ luận văn để bảo tồn trọn vẹn vành đai xanh phòng hộ ven biển.