CHƯƠNG I: CƠ SỞ SỞ KHOA HỌC CHO VIỆC NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Lý luận chung về dự án đầu tư. Khái niệm về dự án. Dự án là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định (khoản 7 Điều 4 – Luật Đấu thầu).
Dự án là một quá trình mang đặc thù riêng bao gồm một loạt các hoạt động được phối hợp và kiểm soát, có định ngày khởi đầu và kết thúc, được thực hiện với những hạn chế về thời gian, chi phí và nguồn lực nhằm đạt được mục tiêu phù hợp với những yêu cầu cụ thể. Dự án là đối tượng của quản lý, có mục tiêu rõ ràng, yêu cầu phải được hoàn thành trong một khoảng thời gian quy định, có dự toán tài chính từ trước và nói chung không được vuợt qua dự toán đó. * Đặc điểm chủ yếu của dự án: - Mục tiêu của dự án bao gồm hai loại: + Mục tiêu mang tính thành quả là yêu cầu mang tính chức năng của dự án như công suất, chỉ tiêu kỹ thuật. + Mục tiêu mang tính ràng buộc như thời hạn hoàn thành, chi phí, chất lượng.
- Mang những yếu tố không chắc chắn và rủi ro. - Chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. - Yêu cầu có sự kết hợp nhiều nguồn lực đa dạng. * Những đặc điểm khác của dự án: - Một dự án cá biệt có thể là một phần của một dự án lớn.
- Trong quá trình triển khai thực hiện, các mục tiêu và đặc điểm kết quả một số dự án sẽ được xác định lại. - Kết quả của dự án có thể là một sản phẩm hoặc một số đơn vị của sản phẩm. 6 - Bộ máy tổ chức chỉ là tạm thời và được thành lập trong thời gian thực hiện dự án. - Sự tương tác giữa các hoạt động dự án có thể phức tạp.
Khái niệm về đầu tư và dự án đầu tư. Khái niệm đầu tư. Theo Luật đầu tư được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 thì: ”Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”. Theo quan điểm của chủ đầu tư: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số vốn đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận.
Theo quan điểm xã hội: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó thu được hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia. Khái niệm dự án đầu tư. Theo Luật xây dựng được Quốc hội thông qua ngày 26 tháng 11 năm 2003 thì: ”Dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn để xây dựng mới, mở rộng hoặc cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong một thời hạn nhất định”. Dự án đầu tư xây dựng công trình bao gồm phần thuyết minh và phần thiết kế cơ sở.
Khi đầu tư xây dựng công trình, chủ đầu tư xây dựng công trình phải lập dự án để xem xét, đánh giá hiệu quả về kinh tế - xã hội của dự án. Dự án đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo các yêu cầu chủ yếu sau đây: - Phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch xây dựng. - Có phương án thiết kế và phương án công nghệ phù hợp. - An toàn trong xây dựng, vận hành, khai thác, sử dụng công trình, an toàn phòng, chống cháy, nổ và bảo vệ môi trường.
- Đảm bảo hiệu quả kinh tế - xã hội của dự án. Phân loại dự án đầu tư. Có nhiều loại dự án khác nhau về mục đích, tính chất, quy mô, đặc điểm và mức độ phức tạp. Để phân tích, đánh giá và quản lý các dự án, người ta tiến hành phân loại các dự án đầu tư.
Có rất nhiều cách phân loại các dự án đầu tư khác nhau tuỳ theo các mục đích sử dụng. a) Phân loại theo quy mô và tính chất. Dự án quan trọng Quốc gia do Quốc hội thông qua chủ trương và cho phép đầu tư. Các dự án còn lại căn cứ vào quy mô vốn đầu tư ban đầu đưa vào dự án, người ta chia thành 3 nhóm A, B, C theo quy định tại phụ lục 1 của Nghị định 16/2005/NĐ-CP ngày 07-02-2005 của Chính phủ.
Về phương diện quản lý, tuy có nhiều nét chung song do đặc điểm của dự án của các nhóm là khác nhau nên khi quản lý cần áp dụng phương pháp và công cụ quản lý khác nhau. Các dự án nhóm A, B thường được đặt ra nhiều vấn đề về quản lý cần được nghiên cứu và giải quyết. Các dự án nhóm C cho phép áp dụng một cách đơn giản và có hiệu quả các phương pháp định lượng. b) Phân loại theo mục đích.
Căn cứ vào các chức năng hay mục đích của các dự án, người ta chia dự án thành: - Dự án đầu tư chiều sâu. - Dự án đầu tư mở rộng. - Dự án đầu tư mới. Việc phân loại theo cách này chúng ta thấy mức độ phức tạp và mức độ rủi ro của các dự án tăng dần.
c) Phân loại theo mối quan hệ giữa các dự án. Căn cứ mối quan hệ giữa các dự án, người ta chia làm hai nhóm dự án: - Dự án độc lập: Những dự án được coi là độc lập với nhau về mặt kinh tế, nếu dự án này được chấp thuận hay từ chối sẽ không ảnh hưởng đế dòng tiền của dự án khác. Khi hai dự án được coi là độc lập về mặt kinh tế có nghĩa là quyết định đầu tư dự án này không ảnh hưởng đến quyết định đầu tư dự án khác. 8 - Dự án đầu tư phụ thuộc: Các dự án đầu tư phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế có nghĩa là dòng tiền của dự án này sẽ chịu ảnh hưởng khi quyết định đầu tư dự án khác.
Trong các dự án phụ thuộc người ta chia ra hai loại: Dự án đầu tư bổ sung và dự án đầu tư thay thế. Một dự án được gọi là dự án bổ sung cho một dự án khác khi đầu tư dự án đó sẽ làm tăng lợi ích dự kiến của dự án khác. Một dự án được coi là thay thế một dự án khác nếu đầu tư dự án đó sẽ làm cho lợi ích dự kiến thu được của dự án kia giảm xuống. Trong trường hợp thay thế cao nhất là khi quyết định đầu tư dự án này sẽ làm cho lợi ích của dự án kia bị triệt tiêu hoàn toàn hay quyết định đầu tư dự án này sẽ bác bỏ tất cả các dự án còn lại, các dự án này được gọi là các dự án loại trừ nhau.
d) Phân loại theo nguồn vốn đầu tư. - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước. - Dự án sử dụng vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước. - Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
- Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng vốn hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Sự khác nhau giữa dự án đầu tư kinh tế và dự án đầu tư môi trường Dự án đầu tư kinh tế: là dự án được tiến hành nhằm duy trì và tạo ra năng lực mới trong sản xuất kinh doanh dịch vụ và sinh hoạt đời sống của xã hội. Các dự án đầu tư kinh tế thường phải có các giá trị về phân tích tài chính lớn, nếu trong trường hợp lợi nhuận ròng của dự án mà nhỏ thì sẽ không được thực hiện. Dự án đầu tư bảo vệ môi trường: là dự án đầu tư phát triển, thể hiện kế hoạch chi tiết công cuộc đầu tư bảo vệ môi trường, làm tiền đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ.
Khác với các dự án đầu tư phát triển kinh tế chủ yếu mang tính chất tư nhân, việc tiến hành đầu tư nhằm tối đa hóa lợi nhuận của các công ty hay doanh nghiệp; các dự án đầu tư bảo vệ môi trường lại là những dự án mang tính chất phúc lợi và phục vụ chung cho cộng đồng nên các giá trị về phân tích tài chính hoặc là lỗ, hoặc 9 sẽ không đạt được giá trị cao, tuy nhiên nó lại có những đóng góp lớn vào việc cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của cộng đồng dân cư; vì thế người ta vẫn tiến hành đầu tư phát triển nhưng đồng thời cần phải đánh giá hiệu quả kinh tế xã hội của dự án để có thể xác định được những ưu đãi đối với việc xây dựng và phát triển dự án đó trong những giai đoạn phát triển nhất định của nền kinh tế. Đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư môi trường 1. Khái niệm đánh giá hiệu quả của một dự án đầu tư môi trường Đánh giá hiệu quả dự án của một dự án đầu tư môi trường là việc so sánh, đánh giá một cách có hệ thống giữa những chi phí và các lợi ích của dự án đem lại cho nền kinh tế, sự phát triển của xã hội và công cuộc bảo vệ môi trường trên quan điểm của toàn bộ nền kinh tế và toàn xã hội. Đánh giá hiệu quả dự án hay phân tích kinh tế- xã hội- môi trường dự án đầu tư nhằm xác định sự đóng góp của dự án vào các mục tiêu phát triển cơ bản của nền kinh tế, bảo vệ môi trường và phúc lợi xã hội.
Để nói lên hiệu quả của lợi ích kinh tế- xã hội- môi trường mà d ự án mang lại, cần phải tiến hành so sánh giữa lợi ích mà nền kinh tế và toàn xã hội thu được với những chi phí xã hội đã bỏ ra hay là sự đóng góp của xã hội khi thực hiện dự án. Những lợi ích mà xã hội thu được chính là sự đáp ứng của dự án đối với việc thực hiện các mục tiêu chung của nền kinh tế và toàn xã hội. Những sự đáp ứng này có thể mang tính chất định tính như đáp ứng các mục tiêu phát triển kinh tế, phục vụ việc thực hiện các chủ trương, chính sách của nhà nước….