CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐIỆN NÔNG THÔN 1.1 Tổng quan về điện Nông thôn 1. Điện khí hoá Nông thôn Điện khí hoá Nông thôn là quá trình đầu tư nguồn và lưới điện để đưa điện về Nông thôn, ứng dụng vào sản xuất và đời sống, nâng cao năng suất, hiệu quả lao động và nâng cao đời sống của nhân dân. Đ iện khí hoá Nông thôn gắn liền với quá trình Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Nội dung của điện khí hoá Nông thôn được xác định gồm: - Quy hoạch phát triển lưới điện Nông thôn; - Đầu tư và phát triển lưới điện Nông thôn; - Khai thác và vận hành có hiệu quả và an toàn lưới điện Nông thôn; - Quản lý kinh doanh có hiệu quả lưới điện Nông thôn.
Chương trình điện khí hoá Nông thôn ở nước ta được triển khai từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX, qua nhiều giai đoạn đã được đầu tư xây dựng và phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật và đổi mới, hoàn thiện quản lý. Tuy nhiên, trên thực tế, m ột số tỉnh, huyện có 100% xã có điện (được coi là đã hoàn thành điện khí hoá nông thôn) trong khi vẫn còn những b ản, làng và những hộ dân trong xã đó là chưa có điện để sử dụng. Điều này đặt ra yêu cầu mới về quản lý ĐNT phù hợp với tình hình mới, khi mà chương trình điện khí hoá nông thôn chuyển sang giai đoạn cao hơn, cần quan tâm nhiều đến các yếu tố về tiêu chuẩn hệ thống điện, chuẩn hoá mô hình quản lý vận hành và kinh doanh điện, giá bán điện đến hộ nông dân. từng bước nâng cao chất lượng điện năng cung cấp, thực hiện công bằng xã hội thông qua giá điện ở nông thôn và thành thị.2 Sự cần thiết phát triển Đ NT để phục vụ cho sự nghiệp CNH- HĐH Nông nghiệp Nông thôn Hiện nay, Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng đến phát triển kinh tế - xã hội nông thôn nhằm đưa nhanh nông nghiệp, nông thôn phát triển, cải thiện đời sống nhân dân để tạo điều kiện cho sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.
Đảng ta cho rằng, nước ta hiện nay vẫn còn là một nước nông nghiệp lạc hậu, 80% dân cư đang sống ở nông thôn tương đương với 75% lực lượng lao động cả nước, trong đó đại bộ phận là người nghèo. Do vậy, việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn có vai trò quan trọng đối với việc ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo cơ sở cho việc phát triển công nghiệp. Nhưng bản thân nông nghiệp không thể tự đổi mình đổi mới cơ sở vật chất kỹ thuật, công nghệ để trở thành nông nghiệp hiện đại; cũng không có khả năng tăng trưởng đủ nhanh để tạo thêm việc làm cho người lao động m à tất yếu cần có sự tác động của nông nghiệp và dịch vụ. Vì thế nông nghiệp nông thôn phải được công nghiệp hoá - hiện đại hoá.
Trong số các biện pháp nhằm thực hiện CNH - HĐH nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy việc phát triển KT-XH, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn, điện có vai trò hết sức quan trọng. Việc đầu tư đưa điện về nông thôn thuộc lĩnh vực đầu tư kết cấu hạ tầng là biện pháp quan trọng để hỗ trợ cho việc phát triển nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ tại nông thôn: “Lộ trình tiếp nhận lưới điện nông thôn của ngành đ iện là đến năm 2010 có 100% số xã trong cả nước có điện lưới Quốc gia và điện tại chỗ .” phục vụ sản xuất sinh hoạt cho nhân dân Do đó, trong những năm qua, ngành Điện và các tỉnh đã nỗ lực thực hiện đầu tư đưa điện về nông thôn theo cơ chế “Nhà nước và Nhân dân cùng làm”. Nỗ lực đó nhằm giải quyết những đòi hỏi cấp bách của chính trị - văn 5 hoá - xã hội, đồng thời gắn liền lâu dài với kinh tế và an ninh quốc phòng. Tuy nhiên, cho tới nay vẫn còn m ột số vùng có tỷ lệ số xã và số hộ nông thôn được dùng điện còn thấp.
Việc phát triển và nâng cao hiệu quả quản lý và sử dụng điện ở nông thôn được xác định bởi 2 mục tiêu sau : - Tăng tỷ lệ với số khu vực có điện - Khai thác hiệu quả điện năng : Những nơi đ ã có điện cần tăng thêm số hộ dùng điện, nâng cao chất lượng điện, giảm tối đ a giá bán đ iện đến hộ nông dân đến mức hợp lý và sử dụng đ iện phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội ở nông thôn.3 Quan điểm của Nhà nước về phát triển điện Nông thôn Xuất phát từ Quyết định số 22/1999/QĐ - TTg ngày 13/02/1999 của Thủ Tưởng Chính phủ về việc “Phê duyệt đề án Đ iện nông thôn” với mục tiêu đưa điện tất cả các tỉnh, huyện trong cả nước. Phấn đấu để 80% số xã, trong đó có 60% số hộ nông dân có điện sinh hoạt và sản xuất, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Đồng thời dựa trên Quyết định số 95/2001/QĐ - TTg ngày 22/06/2001của Thủ Tướng Chính phủ về việc phê duyệt quy hoạch phát triển Điện lực Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 có xét triển vọng đến năm 2020. Thứ nhất : Quy hoạch phát triển hệ thống điện cần phải thống nhất, không mâu thuẫn trước mắt với lâu dài.
Thứ hai : Lưới điện Nông thôn là kết cấu hạ tầng, được đầu tư và thực hiện theo phương châm “Nhà nước và Nhân dân, Trung ương và địa phương cùng làm”, đa dạng hoá phương thức đầu tư và quản lý cung ứng điện, nhằm huy động tổng lực các nguồn vốn để phát triển ngành điện. 6 Thứ ba : Quản lý, sử dụng điện phải đảm bảo nguyên tắc tiết kiệm và hiệu quả : Thứ tư : Phải quán triệt thực hiện chính sách ưu đ ãi phục vụ điện ở nông thôn. Thứ năm : Khai thác các khả năng phát triển đ iện dưới mọi hình thức và quy mô khác nhau : Cơ bản là phát triển điện bằng nguồn và lưới điện quốc gia để tạo sự đồng bộ và thống nhất lâu dài. Tuy nhiên, do tính chất khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, tuỳ theo điều kiện địa phương có thể xem xét các nguồn khác nhau như : -Thuỷ điện nhỏ - Diesel.
-Năng lượng gió. -Năng lượng mặt trời - năng lượng địa nhiệt, thuỷ triều. -Năng lượng sinh khối, Biogas. -Cấp điện cho các vùng giáp ranh các tỉnh bằng nguồn của các tỉnh bạn.
Thứ sáu : Kết hợp với các mục tiêu phục vụ cho việc xây dựng nông thôn mới, cần khai thác và tận dụng các điều kiện hỗ trợ của các chương trình mục tiêu các đề án xây dựng nông thôn. Thứ bảy : Phát triển điện nông thôn phải coi trọng việc quản lý và nâng cao hiệu quả xây dựng mới và cải tạo nâng cấp. - Kết hợp giữa điện lưới Quốc gia và phát triển điện tại chỗ từ nhiều nguồn trên cơ sở lựa chọn phương án tối ưu. - Theo kế hoạch bàn giao trung thế và trạm biến áp cho ngành đ iện quản lý theo Quyết định số 22/1999/QĐ -TTg, ngày 13/02/1999 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án Điện Nông thôn và Thông tư liên tịch 06/2010/TTLT-BCT-BTC ngày 03/02/2010 H ướng dẫn giao, nhận và hoàn trả vốn đầu tư lưới điện hạ áp Nông thôn.
Địa phương tăng cường củng cố và quản lý bán điện đến cấp 0,4kv; Nhanh chóng chuyển sang bán điện cấp 1 cấp và theo đúng mức giá hợp lý hay đúng quy định.4 Quan điểm của Quốc gia đổi với lưới điện Nông thôn Thực hiện Luật điện lực đã ban hành và luật số 24/2012/QH13 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực số 28/2004/QH11, trong đó có nội dung về “Quy hoạch phát triển điện lực là quy hoạch chuyên ngành bao gồm quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia và quy hoạch phát triển Điện lực tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Quy hoạch phát triển điện lực được lập, phê duyệt để làm cơ sở cho các hoạt động đầu tư phát triển điện lực và được điều chỉnh phủ hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ.” Trên cơ sở đó, quy hoạch phát triển điện lực tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương được lập trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và phải phù hợp với quy hoạch phát triển điện lực Quốc gia. Như vậy mục tiêu phát triển lưới điện nông thôn cũng được đánh giá hiện trạng cung cấp điện tại địa phương, đặc biệt là vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; Giá bán điện ở nông thôn đảm bảo mức giá thấp hơn mức giá trần do Chính phủ quy định. Tiêu biểu phải kể đến Chương trình mục tiêu quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả của Chính phủ, đáp ứng nhu cầu sử dụng điện năng và góp phần giảm phụ tải lưới điện Q uốc gia, chương trình cũng đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của người dân, trong đó có nhiều người dân vùng Nông thôn.5 Đặc điểm của lưới điện Nông thôn Đặc thù lưới Điện Nông thôn là phân bố phân tán, chất lượng các công trình phần lớn lưới điện không đảm bảo kỹ thuật, nên việc quản lý chặt chẽ chống thất thoát điện năng là một yêu cầu tất yếu đảm bảo hiệu quả trong sản xuất kinh doanh điện ở nông thôn.
+ Đa số các công trình đầu tư không được quy hoạch một cách đầy đủ, lâu dài. 8 + V ốn đầu tư có hạn nên có những ảnh hưởng nhất định đến chất lượng công trình. + Do thiếu kinh phí hoặc do chưa được chú ý đến việc duy tu, bảo dưỡng các công trình, đã làm cho công trính xuống cấp, thậm chí có nơi rất nghiêm trọng thiếu đảm bảo an toàn trong vận hành. + Tổ chức quản lý sau trạm biến áp để bán lẻ cho nông dân chưa được tốt, thể hiện ở sự thiếu đào tạo chuyên môn, việc kiểm tra, kiểm soát chưa thực sự được quan tâm.
+ Đường dây hạ thế các nhánh rẽ trước và sau công tơ hầu hết không theo tiêu chuẩn, thực hiện theo thực tế có sẵn nên thường không đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật. Quản lý điện Nông thôn 1.1 Đặc điểm quản lý điện Nông thôn Quản lý điện nông thôn có nội hàm rộng, từ quản lý con người, sản xuất, truyền tải, phân phối, tiêu dùng.