CHƯƠNG 1 NHỮNG LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ, LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG VÀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG SỬ DỤNG VỐN TRÁI PHIẾU CHÍNH PHỦ 1. Nguồn vốn trái phiếu Chính phủ và dự án đầu tư xây dựng bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ 1. Khái niệm về trái phiếu và trái phiếu Chính phủ 1. Trái phiếu Trái phiếu là một chứng nhận nghĩa vụ nợ của người phát hành phải trả cho người sở hữu trái phiếu đối với một khoản tiền cụ thể (mệnh giá trái phiếu), trong một thời gian xác định và với một lợi tức quy định.
Trái phiếu là loại chứng khoán nợ, tổ chức phát hành với tư cách là người đi vay, còn người mua trái phiếu là người cho vay (hay là nhà đầu tư). Đối với người thiếu vốn, trái phiếu là phương tiện vay vốn qua thị trường còn đối với người đầu tư thì trái phiếu là một phương tiện để đầu tư thu lời. Người phát hành trái phiếu có thể là doanh nghiệp (trường hợp này gọi là trái phiếu doanh nghiệp), một tổ chức chính quyền như Kho bạc nhà nước (trường hợp này gọi là trái phiếu kho bạc), chính quyền (trường hợp này gọi là công trái hoặc trái phiếu Chính phủ). Người mua trái phiếu, trái chủ có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp hoặc Chính phủ.
Trái chủ được ghi trên trái phiếu (trái phiếu ghi danh) hoặc không được ghi (trái phiếu vô danh). Trái chủ là người cho nhà phát hành vay và họ không chịu bất cứ trách nhiệm nào về kết quả sự dụng vốn vay của người vay. Nhà phát hành có nghĩa vụ phải thanh toán theo các cam kết nợ được xác định trong hợp đồng vay. Trái phiếu Chính phủ - Trái phiếu Chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho chương trình, dự án đầu tư cụ thể thuộc phạm vi đầu tư của nhà nước.
5 - Các loại trái phiếu Chính phủ : +) Tín phiếu kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn 13 tuần, 26 tuần hoặc 52 tuần và đồng tiền phát hành là đồng Việt Nam. Các kỳ hạn khác của tín phiếu kho bạc do Bộ Tài chính quyết định tùy theo nhu cầu sử dụng vốn và tình hình thị trường nhưng không vượt quá 52 tuần. Mục đích của việc phát hành tín phiếu kho bạc là để huy động vốn để bù đắp thiếu hụt tạm thời của NSNN trong năm tài chính +) Trái phiếu kho bạc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một năm trở lên và đồng tiền phát hành là đồng tiền Việt Nam hoặc ngoại tệ tự do chuyển đổi. Trái phiếu kho bạc nhằm huy động vốn bù đắp thiếu hụt của NSNN hàng năm được Quốc hội phê duyệt +) Công trái xây dựng Tổ quốc là loại trái phiếu Chính phủ có kỳ hạn từ một năm trở lên, và được phát hành nhằm huy động nguồn vốn để đầu tư xây dựng những công trình quan trọng quốc gia và các công trình thiết yếu khác phục vụ sản xuất, đời sống, tạo cơ sở vật chất, kỹ thuật cho đất nước.
+) Trái phiếu công trình là loại TPCP có kỳ hạn từ một năm trở lên nhằm huy động vốn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ, cho các dự án thuộc nguồn vốn đầu tư của NSTW đã ghi trong kế hoạch. Đặc điểm, vai trò của trái phiếu Chính phủ trong phát triển kinh tế- xã hội - Đặc điểm: Trái phiếu Chính phủ là một phần trong ngân sách Nhà nước, và là một chứng nhận nghĩa vụ nợ. - Vài trò: +) Trái phiếu Chính phủ dùng để đầu tư phát triển KT-XH thuộc nhiệm vụ chi của NSTW theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước; +) Để bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay trái phiếu ngắn hạn; +) Để cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ Chính phủ; +) Nhằm cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật; 6 +) Các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia. Các phương thức huy động vốn bằng trái phiếu Chính phủ Huy động vốn bổ sung cho ngân sách Nhà nước bằng việc phát hành trái phiếu Chính phủ trong nước và quốc tế 1.
Phát hành trái phiếu trong nước - Tín phiếu kho bạc được phát hành theo phương thức đấu thầu qua sở giao dịch Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hoặc phát hành trực tiếp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn về trình tự thủ tục phát hành tín phiếu kho bạc. Trường hợp phát hành trực tiếp tín phiếu kho bạc cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính thống nhất với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam để trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định với từng đợt phát hành. - Trái phiếu Chính phủ được phát hành theo các phương thức như: +) Đầu thầu phát hành trái phiếu +) Bảo lãnh phát hành trái phiếu +) Đại lý phát hành trái phiếu +) Bán lẻ trái phiếu 1.
Phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế Việc phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế do Bộ tài chính chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành và các tổ chức liên quan để tổ chức phát hành trái phiếu theo đề án đã được Chính phủ phê duyệt Căn cứ theo tình hình thực tế và quy định pháp luật, Bộ Tài chính quyết định trình tự phát hành theo các bước : - Lựa chọn các tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành: lựa chọn một hoặc một số tổ chức tài chính, tín dụng đầu tư quốc tế hàng đầu trên thế giới, có kinh nghiệm trong lĩnh vực phát hành trái phiếu để bão lãnh phát hành cho đợt phát hành trên cơ sở chào thầu cạnh tranh theo tiêu chí cụ thể và danh sách các tổ chức do tạp chí uy tín quốc tế bình chọn 7 - Lựa chọn các tư vấn pháp lý: chủ trì, phối hợp với tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành lựa chọn các tổ chức, công ty luật có uy tín và kinh nghiệm trong và ngoài nước làm tư vấn pháp lý trong nước, tư vấn pháp lý quốc tế cho Bộ Tài chính và tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành; - Hoàn thiện hồ sơ phát hành: chủ trì, phối hợp với tư vấn pháp lý trong nước hoặc tư vấn pháp lý quốc tế đàm phán, ký kết các hợp đồng với tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành, các đại lý có liên quan và chuẩn bị các tài liệu trong hồ sơ phát hành phù hợp với thông lệ quốc tế và luật pháp của Việt Nam; - Đánh giá hệ số tín nhiệm: chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan làm việc với các tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm để xác nhận hệ số tín nhiệm cho quốc gia; - Tổ chức quảng bá: việc tổ chức quảng bá chào bán trái phiếu do Bộ Tài chính thực hiện tùy thuộc yêu cầu của từng phương thức phát hành trái phiếu. Bộ Tài chính phối hợp với tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành tổ chức quảng bá trái phiếu tại các trung tâm tài chính lớn trên thế giới để tiếp xúc với cộng đồng các nhà đầu tư quốc tế trước khi thực hiện việc định giá để phát hành trái phiếu; - Tổ chức phát hành: Bộ Tài chính quyết định các điều kiện, điều khoản phát hành trái phiếu trong quá trình định giá trái phiếu trên cơ sở tư vấn của tổ chức hoặc tổ hợp bảo lãnh phát hành, phù hợp với điều kiện thị trường và các nguyên tắc nêu tại đề án phát hành trái phiếu đã được Chính phủ phê duyệt; - Tiếp nhận vốn: Bộ Tài chính tổ chức tiếp nhận nguồn vốn trái phiếu đã phát hành theo đúng các thỏa thuận đã ký; - Hoàn tất giao dịch phát hành: sau khi nhận tiền bán trái phiếu, Bộ Tài chính hoàn tất và ký kết các văn bản pháp lý kết thúc giao dịch phù hợp với thông lệ quốc tế, đồng thời báo cáo kết quả phát hành theo các quy định hiện hành. Kế hoạch phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ cho các dự án đầu tư xây dựng công trình 8 Các dự án đầu tư xây dựng công trình được phân bổ vốn trái phiếu Chính phủ trước hết phải được ghi trong kế hoạch đầu tư từ nguồn vốn ngân sách Trung ương. Kế hoạch phân bổ nguồn vốn hàng năm cho các dự án do Bộ Kế hoạch và đầu tư phối hợp cùng với Bộ Tài chính, dựa trên dự toán Ngân sách hàng năm do Quốc hội thông qua.
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư xây dựng công trình sử dụng vốn trái phiếu Chính phủ Do nguồn vốn TPCP thực chất là một chứng khoán nợ của Chính phủ vì vậy sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo được tính hiệu quả sao cho thỏa mãn được nhu cầu của xã hội. Việc đánh giá hiệu quả của vốn đầu tư bằng nguồn vốn TPCP là rất cần thiết, đặc biệt là đối với nền kinh tế kém phát triển, có mức thu nhập thấp như nước ta. Lợi ích của vốn đầu tư mang lại bao gồm lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Biểu hiện của lợi ích kinh tế là tăng thu nhập quốc dân, nâng cao mức sống, làm thay đổi cơ cấu và thúc đẩy nền kinh tế phát triển, từ đó làm tăng thu ngân sách Nhà nước.Còn lợi ích xã hội biểu hiện lợi ích chính trị, quốc phòng, an ninh chính trị, ổn định xã hội, phát triển văn hóa, tăng cường sự bình đẳng và quyền lợi giữa các vùng miền.
Để đánh giá hiệu quả của hoạt động đầu tư, thường sử dụng các nhóm chỉ tiêu sau: * Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả đầu tư chung: - Chỉ tiêu ICOR: dùng để phản ánh mối quan hệ giữa đầu tư và tăng trưởng qua công thức: I ICOR = (1.1) ∆ GDP Trong đó: ICOR: Hệ số tỷ lệ giữa vốn đầu tư và tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội I : Vốn đầu tư 9 ∆ GDP : Mức thay đổi trong tổng sản phẩm quốc nội Hệ số ICOR càng thấp thì hiệu quả của vốn đầu tư càng cao. Nếu hệ số này không đổi thì tỷ lệ giữa vốn đầu tư so với GDP sẽ quyết định tốc độ tăng trưởng kinh tế. Tỷ lệ đầu tư càng cao thì tốc độ tăng trưởng càng cao và ngược lại. - Hiệu suất vốn đầu tư: Hiệu suất vốn đầu tư thể hiện mối quan hệ so sánh giữa GDP và vốn đầu tư trong kỳ : GDP Hi = (1.