CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CƠ BẢN BẰNG NGUỒN VỐN NSNN 1. Cơ sở lý luận về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN 1. Khái niệm và vai trò về đầu tư xây dựng cơ bản 1. Khái niệm đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư là quá trình sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian xác định nhằm đạt được kết quả hoặc một tập hợp các mục tiêu xác định trong điều kiện KTXH nhất định.
Theo nghĩa rộng, trên điểm vĩ mô, các tác giả (Sharpe và Alexander, 1999) cho rằng: Đầu tư có nghĩa là sự hi sinh giá trị chắc chắn ở hiện tại để đạt được giá trị (có thể không chắc chắn) ở tương lại. Giá trị ở hiện tại có thể hiểu là tiêu dùng, còn giá trị tương lai lại được hiểu là năng lực sản xuất có thể làm gia tăng sản lượng quốc gia. Điều này áp dụng trong khía cạnh xây dựng thì: đầu tư xây dựng là quá trình bỏ vốn nhằm tạo ra các tài sản vật chất dưới dạng các công trình xây dựng. Theo Từ Quang Phương (2012) đưa ra khái niệm đầu tư như sau: Đầu tư là sự bỏ ra hay là sự hy sinh nguồn lực ở hiện tại (tiền, của cải, con người, trí tuệ, bí quyết công nghệ…) để tiến hành một hoạt động nào đó ở hiện tại nhằm đạt được kết quả lớn hơn trong tương lai.
Nền kinh tế cần có những cơ sở vật chất cơ bản để có thể phát triển kinh tế như hệ thống đường, hệ thống trường học, công nghệ thông tin… khi cơ sở vật chất này hiện đại sẽ giúp kích thích, phát triển kinh tế. Theo Nguyễn Phương Liên (2014) đưa ra khái niệm đầu tư cơ bản như sau: đầu tư cơ bản là hoạt động đầu tư để tạo ra các tài sản cố định và hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau. Đối với đầu tư xây dựng cơ bản trong nên kinh tế quốc dân là một bộ phận của đầu tư phát triển, là toàn bộ những chi phí để đạt được mục đích đầu 6 tư, bao gồm chi phí cho việc khảo sát thiết kế và xây dựng, mua sắm, lắp đặt máy móc thiết bị và các chi phí và các chi phí khác được ghi trong tổng dự toán. Đây là quá trình bỏ vốn để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tài sản xuất giản đơn và tài sản xuất mở rộng các tài sản cố định trong nền kinh tế.
Đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của toàn bộ nền kinh tế nói chung và của các cơ sở sản xuất kinh doanh nói riêng. Đầu tư xây dựng cơ bản là hoạt động chủ yếu tạo ra tài sản cố định. Đầu tư xây dựng cơ bản được thông qua nhiều hình thức như xây dựng mới, cải tạo, mở rộng, hiện đại hóa hay khôi phục tài sản cố định cho nền kinh tế. Theo Nguyễn Thị Bình (2012): Đầu tư xây dựng cơ bản là một bộ phận của hoạt động đầu tư nói chung, đó là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản nhằm tài sản xuất giản đơn và tài sản xuất mở rộng các tài sản cố định cho nền kinh tế quốc dân thông qua các hình thức xây dựng mới, xây dựng mở rộng, xây dựng lại, hiện đại hóa các tài sản cố định.
Vai trò đầu tư xây dựng cơ bản Đầu tư xây dựng cơ bản có vai trò rất lớn đối với nền kinh tế quốc dân nói chung cũng như từng đơn vị sản xuất kinh doanh nói riêng. Trong nền kinh tế quốc dân, đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế, tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước, đến sự ổn định kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người lao động. Điều đó được thể hiện cụ thể như sau: Đầu tư xây dựng cơ bản tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế: đầu tư xây dựng cơ bản là tiền đề cho việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ, nâng cao năng lực sản xuất cho từng ngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Đầu từ xây dựng cơ bản tác động đến sự phát triển khoa học công nghệ của đất nước.
Đầu tư xây dựng cơ bản tác động đến sự ổn định công ăn việc làm, nâng cao trình độ đội ngũ lao động. Quá trình thực hiện đầu tư và đưa vào sử dụng 7 thu hút khá lớn lao động. Nhiều dự án đã tạo điều kiện nâng cao tay nghề cho người lao động, tích lũy, trau dồi kinh nghiệm quản lý. Đầu tư xây dựng cơ bản đối với các doanh nghiệp: Đối với doanh nghiệp, đầu tư xây dựng cơ bản là điều kiện quyết định sự tồn tại và phát triển của các đơn vị sản xuất- kinh doanh và tăng khả năng cạnh tranh của các đơn vị.
Để đạt được mục tiêu phát triển sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp cần đầu tư xây dựng, cải tạo sửa chữa, máy móc thiết bị, nâng cao tay nghề của người lao động, tạo điều kiện chuyên môn hóa, đa dạng hóa sản phẩm. Khái niệm và đặc điểm của quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn NSNN 1. Khái niệm Theo Nguyễn Văn Thập (2019): Đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước là quá trình Nhà nước bỏ vốn từ ngân sách để tiến hành các hoạt động xây dựng cơ bản nhằm tạo ra tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật đảm bảo hoạt động và phát triển của nền kinh tế, Theo Nghiêm Văn Dĩnh (2001) đưa ra khái niệm về quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN như sau: Quản lý hoạt động đầu tư và xây dựng là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực của nhà nước vào các quá trình, các quan hệ kinh tế - xã hội trong đầu tư và xây dựng từ bước xác định dự án đầu tư để thực hiện đầu tư và cả quá trình đưa dự án vào khai thác sử dụng để đạt mục tiêu đã định nhằm đảm bảo hướng ý chí và hành động của các chủ thể kinh tế vào mục tiêu chung, kết hợp hài hòa lợi ích của cá nhân, tập thể và lợi ích của nhà nước. Từ những quan niệm trên có thể hiểu, quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước vào các quá trình, các quan hệ kinh tế - xã hội trong đầu tư xây dựng cơ bản nhằm đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu do Nhà nước đặt ra.
Đặc điểm hoạt động quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản là một phần của hoạt động quản lý đầu tư phát triển. Do đó quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN mang một số đặc điểm như sau: Sử dụng hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá hoạt động đầu tư: để đảm bảo sử dụng vốn NSNN được hiệu quả nhà nước đề ra một loạt các quy định, các định mức… Trong xây dựng thì cũng có rất nhiều tiêu chuẩn và tiêu chí, với các công trình khác nhau thì áp dụng các tiêu chuẩn và tiêu chí khác nhau. Dựa trên bộ tiêu chuẩn và tiêu chí này các cơ quan chức năng sẽ tiến hành kiểm tra, xem xét và đánh giá việc thực hiện các tiêu chuẩn và tiêu này trong quá trình đầu tư. Hoạt động quản lý thường kéo dài: Quá trình đầu tư xây dựng cơ bản thường kéo dài rất lâu: Từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư, giai đoạn thực hiện đầu tư, vận hành kết quả đầu tư… các giai đoạn này có thể kéo dài vài năm, trong một số trường hợp còn kéo dài lâu hơn.
Bên cạnh đó, cũng có những dự án quá trình vận hành kết quả đầu tư kéo dài hàng chục năm, hàng trăm năm… Chính vậy, hoạt động quản lý thường kéo dài trong nhiều năm. Hoạt động quản lý đầu tư có ảnh hưởng sâu rộng: Tính hiệu quả của hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước phụ thuộc rất nhiều vào hoạt động quản lý này. Đối với các công trình XDCB bằng nguồn vốn NSNN chủ yếu là các công trình công cộng, công trình giao thông… Điều này không chỉ nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân mà nó còn tạo được động lực thúc đẩy phát triển các thành phần kinh tế khác như thành phần kinh tế tư nhân và thành phần kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài… 1.Nội dung quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn Ngân sách Nhà nước là một trình tự có tổ chức thể hiện chức năng lãnh đạo, chỉ đạo của chủ đầu tư 9 và đội ngũ cán bộ quản lý đối với từng công việc cụ thể trong quá trình thực hiện đầu tư. Mỗi giai đoạn của quá trình đầu tư phải được cụ thể hóa công việc của người quản lý , người thực hiện theo một logic nhất định.
Nội dung quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước được thể hiện theo các giai đoạn của quá trình đầu tư như sau: 1. Quản lý đầu tư xây dựng cơ bản bằng nguồn vốn NSNN trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư +Chuẩn bị vốn ngân sách nhà nước cho đầu tư XDCB Quá trình chuẩn bị vốn đầu tư là rất quan trọng, nó quyết định rất nhiều đến việc thực hiện các dự án đầu tư cũng như tiến độ thực hiện, chất lượng dự án đầu tư. Việc chuẩn bị càng tốt sẽ đánh giá được những nguồn thu như nào, số lượng bao nhiêu… từ đó có được số lượng vốn chính xác thì mới có thể thực hiện được việc đầu tư đúng theo kế hoạch đề ra. Bên cạnh đó cũng thông qua việc chuẩn bị vốn này cũng xem xét đến khả năng thu ngân sách nhà nước của địa phương từ đó xây dựng được phương án thu đạt đúng theo chỉ tiêu đã đề ra, đảm được số vốn theo yêu cầu để có thể tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản.