CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ LOGISTICS VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH LOGISTICS 1.1 Tổng quan về logistics 1.1 Khái niệm dịch vụ logistics Theo Hội đồng Quản trị Logistics Hoa Kỳ (CLM) thì “Quản trị Logistics là quá trình hoạch định, thực hiện và kiểm soát một cách hiệu lực và hiệu quả hoạt động vận chuyển, lưu trữ hàng hóa, dịch vụ và những thông tin có liên quan từ điểm đầu tiến đến điểm tiêu dùng cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của khách hàng”. Còn giáo sư Martin Christopher lại cho rằng: “Logistics là quá trình quản trị chiến lược thu mua, di chuyển và dự trữ nguyên liệu, bán thành phẩm, thành phẩm (và dòng thông tin tương ứng) trong một công ty và qua các kênh phân phối của công ty để tối đa hóa lợi nhuận hiện tại và tương lai thông qua việc hoàn tất đơn hàng với chi phí thấp nhất”. Theo quan điểm “5 đúng “(“5 Right”) thì: “Logistics là quá trình cung cấp đúng sản phẩm đến đúng vị trí, vào đúng thời điểm với điều kiện và chi phí phù hợp cho khách hàng tiêu dùng sản phẩm” (Douglas M. Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 (Điều 233): “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Từ định nghĩa trên cho thấy, dịch vụ logistics là hoạt động thương mại mà pháp luật Việt Nam quy định vừa mang tính hẹp, vừa mang tính mở. Bởi vì, pháp luật quy định mang tính liệt kê đối với dịch vụ logistics, cụ thể là chỉ được thực hiện theo các công đoạn được quy định tại Điều 233 Luật Thương mại 2005, đó là nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan Luan van 6 đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. Chính vì vậy, những hoạt động không thuộc các hoạt động nêu trên tất yếu không phải là hoạt động của dịch vụ logistics. Điều này phần nào mang tính hạn chế.
Tuy nhiên, Điều 233 Luật Thương mại 2005 cũng mang yếu tố mở khi trong khái niệm dịch vụ logistics quy định “các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Do đó, khi những hoạt động chưa được pháp luật ghi nhận vẫn có thể là hoạt động trong dịch vụ logistics nếu liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao.2 Phân loại logistics 1.1 Theo hình thức Theo tiêu chí này, logistics được chia thành 5 loại Logistics bên thứ nhất (1PL – First party logistics) chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân, theo đó chủ hàng phải đầu tư vào phương tiện vận tải, kho bãi, nhân công,… để quản lý và vận hành hoạt động logistics. Hình thức này thường làm giảm hiệu quả kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp vì họ sẽ không đủ kỹ năng, kinh nghiệm chuyên môn để quản lý và vận hành hệ thống. Logistics bên thứ 2 (2PL – Second party logistics): người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 sẽ cung cấp dịch vụ cho các hoạt động đơn lẻ trong dây chuyền logistics như vận tải, lưu kho bãi, thanh toán, mua bảo hiểm,… Trong hình thức này, 2PL chưa tích hợp các hoạt động đơn lẻ thành chuỗi cung ứng đồng nhất.
Logistics bên thứ 3 (3PL – Third party logistics): người cung cấp dịch vụ sẽ thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận. 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,… và có tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng Logistics bên thứ 4 (4PL – Fourth party logistics): người cung cấp dịch vụ là người tích hợp (integrator), gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình với các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL hướng đến quản lý cả quá trình logistics. Luan van 7 Logistics bên thứ 5 (5PL – Fith party logistics): được nói tới trong lĩnh vực thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ logistics cung cấp dịch vụ trên cơ sở nền tảng là thương mại điện tử.2 Phân loại theo quá trình Theo tiêu chí này, logistics gồm 3 loại: - Logistics đầu vào: là các dịch vụ đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí cho quá trình sản xuất.
- Logistics đầu ra: là các dịch vụ đảm bảo cung cấp các thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu cả về vị trí, thời gian và chi phí nhằm đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. - Logistics ngược: là các dịch vụ được cung ứng để đảm bảo quá trình thu hồi phế phẩm, phế liệu,… các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.3 Phân loại theo đối tượng hàng hóa - Logistics hàng tiêu dùng nhanh: là quá trình logistics cho hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như: quần áo, giày dép, thực phẩm… - Logistics ngành ô tô: là quá trình logistics phục vụ cho ngành ô tô. - Logistics hóa chất: là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm. - Logistics hàng điện tử.
- Logistics dầu khí.3 Các hoạt động logistics Theo Điều 233 Luật Thương mại, các hoạt đông logistis bao gồm: Các dịch vụ logistic chủ yếu: - Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container. Luan van 8 - Dịch vụ kho bãi và lưu trữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị. - Dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa. - Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vẫn chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lý hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và mua container.
Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải: - Dịch vụ vận tải đường thủy Phương thức vận tải này bao gồm: vận tải thủy nội địa (lưu thông trên các sông, hồ, kênh đào), vận tải hàng hải (vận chuyển trên các biển, đại dương). Vận tải đường thủy có lợi thế là cước vận tải rẻ do vận chuyển với số lượng lớn, với các đội tàu chuyên dụng, cơ sở hạ tầng một phần do thiên nhiên kiến tạo sẵn… Tuy nhiên với phương thức vận chuyển này thì có điểm bất lợi là thời gian vận chuyển tương đối lâu. - Dịch vụ vận tải hàng không Hoàn toàn trái ngược với vận tải đường thủy, vận tải không chỉ phù hợp với những loại hàng có khối lượng nhỏ nhưng giá trị cao, nhất là những mặt hàng cần phải vận chuyển trong một thời gian ngắn, như: hàng quý hiếm, rau quả, thực phẩm tươi sống, các mặt hàng thời trang, những loại hàng hóa đặc biệt… Thường thì khách hàng chỉ lựa chọn phương thức này khi không còn cách nào khác do cước vận tải quá cao, thủ tục phức tạp, đòi hỏi nhiều loại giấy tờ, chứng nhận. Tuy có những yếu điểm nêu trên, nhưng vận tải hàng không trong những trường hợp cần thiết vẫn được sử dụng do có hai ưu điểm lớn, đó là: tốc độ vận chuyển rất nhanh và độ an toàn cao.
- Dịch vụ vận tải đường sắt Vận tải đường sắt kém linh hoạt hơn vận tải đường bộ. Tàu hỏa không thể cung cấp dịch vụ đến một điểm bất kỳ (Point – To – Point) theo yêu cầu của khách hàng, vì không phải ở đâu người ta cũng có thể lắp đặt đường ray và xây dựng nhà ga – cơ Luan van 9 sở vật chất kỹ thuật cần có của đường sắt. Cũng như các phương thức vận tải đường hàng không, đường thủy, đường ống, đường sắt chỉ có thể vận chuyển hàng hóa từ ga này tới ga kia (Terminal – To – Terminal). Tuy nhiên, tàu hỏa thường đi, đến theo lịch trình cố định, tần suất khai thác các chuyến không cao và chắc chắn là không thể linh hoạt, dễ dàng, nhanh chóng, mọi lúc mọi nơi như đường bộ.
Chính vì có nhiều nhược điểm như vừa nêu, nên mặc dù có giá cước tương đối thấp, đường sắt vẫn ít được áp dụng trong logistics như một phương thức vận tải độc lập, mà thường áp dụng dưới dạng đa phương thức. - Dịch vụ vận tải đường bộ Đường bộ là phương thức vận tải nội địa phổ biến, cung cấp dịch vụ vận tải nhanh chóng, đáng tin cậy. Phương thức này đặc biệt được ưa chuộng khi vận chuyển những hàng hóa như: đồ chơi trẻ em, đồng hồ, bánh kẹo, các loại nông sản, các sản phẩm được chế biến từ sữa. Ưu điểm nổi bật của phương thức này là có tính linh hoạt cao, có thể cung cấp các dịch vụ từ cửa đến cửa khá hiệu quả.
Theo thống kê, lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường bộ tăng đều qua các năm: Phương thức vận chuyển này thực sự là một bộ phận quan trọng của mạng lưới logistics của nhiều công ty vì có khả năng đáp ứng được yêu cầu của khách hàng với giá tương đối rẻ. - Dich vụ vận tải đường ống Đây là phương thức vận tải chuyên dụng, chỉ để vận chuyển những mặt hàng như: khí đốt, dầu thô, nước sạch, hóa chất hoặc than bùn mà. Vận tải bằng đường ống cung cấp cho khách hàng mức độ dịch vụ rất cao với chi phí có thể chấp nhận. Trong phương thức này sản phẩm được giao đúng hạn vì luồng sản phẩm đi qua ống được điều khiển và kiểm soát bằng máy tính, nhờ đó chi phí nhân công được cắt giảm; Ít khi xảy ra thất thoát hoặc hư hỏng; Không bị ảnh hưởng bởi thời tiết khi hàng đang vận chuyển trong ống.
Các dịch vụ logistics liên quan khác: - Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật - Dịch vụ bưu chính.