Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông 1. Khái quát về doanh nghiệp viễn thông 1. Khái niệm doanh nghiệp viễn thông và phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Doanh nghiệp viễn thông là tổ chức được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật trong các lĩnh vực cung cấp các dịch vụ viễn thông; sản xuất thiết bị, vật liệu viễn thông; xuất nhập khẩu, cung ứng thiết bị, vật liệu viễn thông và tư vấn, khảo sát, thiết kế và xây dựng công trình viễn thông.
Phân tích hoạt động kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và các kết quả hoạt động kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, trên cơ sở đó, dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu. Phân tích hoạt động kinh doanh luôn gắn liền với mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như những hoạt động tự giác và có ý thức cao của con người. Tuy nhiên trong điều kiện kinh doanh với quy mô và trình độ khác nhau, công việc phân tích cũng tiến hành khác nhau. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông a.
Khái niệm hoạt động kinh doanh viễn thông Có nhiều cách hiểu và diễn đạt khác nhau về hoạt động kinh doanh viễn thông. Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ thể của viễn thông thì có thể hiểu hoạt động kinh doanh viễn thông là các hoạt động thực hiện một hoặc một số công đoạn truyền đưa tin tức nhằm mục tiêu sinh lời của các chủ thể kinh doanh (doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông) trên thị trường. Đặc điểm dịch vụ viễn thông - Tính vô hình của dịch vụ viễn thông Dịch vụ viễn thông không phải là sản phẩm vật chất chế tạo mới, không phải là hàng hoá cụ thể mà là hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức từ người gửi đến người nhận, sản phẩm viễn thông thể hiện dưới dạng dịch vụ. Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm mục đích trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn 6 đến việc chuyển quyền sở hữu.
Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản xuất vật chất. Để tạo ra dịch vụ viễn thông cần có sự tham gia của các yếu tố sản xuất viễn thông: Lao động, tư liệu lao động (phương tiện, thiết bị thông tin) và đối tượng lao động. Dịch vụ viễn thông không tồn tại ngoài quá trính sản xuất, nên không thể đưa vào kho, không thể thay thế được, do vậy có những yêu cầu rất cao đối với chất lượng dịch vụ. Do đặc điểm dịch vụ viễn thông không phải là vật chất cụ thể nên để tạo ra dịch vụ các doanh nghiệp viễn thông không cần đến những nguyên vật liêu chính như các ngành khác mà chỉ cần sử dụng các vật liệu phụ điều này ảnh hưởng đến cơ cấu chi phí sản xuất kinh doanh: Chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng nhỏ, chi phí lao động sống chiếm tỷ trọng lớn., để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần áp dụng hững biện pháp sao cho phù hợp.
- Quá trình sản xuất kinh doanh viễn thông mang tính dây chuyền Quá trình truyền đưa tin tức là quá trình diễn ra từ hai phía (người gửi tin và người nhận tin ở các địa điểm khác nhau). Do vậy, để thực hiện một đơn vị dịch vụ viễn thông cần có nhiều người. Nhiều nhóm người, nhiều đơn vị sản xuất trong nước, quốc tế cùng tham gia và trong quá trình đó người ta sử dụng nhiều lọai phương tiện, thiết bị thông tin khác nhau. Như vậy để truyền đưa một tin tức hoàn chỉnh từ người gửi đến người nhận phải có từ hai hay nhiều cơ sở viễn thông tham gia, mỗi cơ sở chỉ thực hiện một giai đoạn nhất định của quá trình truyền đưa tin tức hoàn chỉnh đó.
Đây là đặc điểm quan trọng chi phối đến công tác tổ chức, quản lý hoạt động viễn thông. Quá trình truyền đưa tin tức viễn thông trải dài trên một không gian rộng lớn, có nhiều cơ sở viễn thông tham gia, do vậy phải có quy định thống nhất về thể lệ thủ tục khai thác các dịch vụ viễn thông, quy trình khai thác, bảo dưỡng thiết bị cho tới chính sách đầu tư phát triển mạng, thống nhất về đào tạo cán bộ cũng như sự phối hợp chặt chẽ trên phạm vi rất rộng lớn quy mô cả nước và mở rộng ra thế giới, đòi hỏi sự thống nhất và tính kỷ luật cao, sự gắn bó hoạt động trong nước với quốc tế. - Quá trình sản xuất kinh doanh viễn thông gắn liền với quá trình tiêu thụ 7 dịch vụ viễn thông Trong hoạt động thông tin viễn thông, quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ, hay nói cách khác, hiệu quả có ích của quá trình truyền đưa tin tức được tiêu dùng ngay trong quá trình sản xuất. Như trong đàm thoại, bắt đầu đăng ký đàm thoại là bắt đầu quá trình sản xuất, sau khi đàm thoại xong tức là sau khi tiêu dùng hiệu quả có ích của quá trình sản xuất thì quá trình sản xuất cũng kết thúc.
Với đặc điểm quá trình sản xuất gắn liền với quá trình tiêu thụ sản phẩm, người sử dụng dịch vụ viễn thông tiếp xúc trực tiếp với nhiều khâu sản xuất, quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành. Do vậy mức độ hiểu biết, trình độ sử dụng các dịch vụ viễn thông của người tiêu dùng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng viễn thông. Quá trình tiêu thụ không tách rời quá trình sản xuất, vì vậy đòi hỏi người sử dụng phải có mặt ở vị trí có điểm thông tin, cho nên để thu hút làm thoả mãn nhu cầu truyền tin đưa tin tức ngành viễn thông phải phát triển mạng lưới rộng khắp để đưa các điểm thông tin đến gần các đối tượng sử dụng. - Trong kinh doanh dịch vụ viễn thông tải trọng dao động không đồng đều theo thời gian và không gian Tải trọng là lượng tin tức do khách hàng nhu cầu một cơ sở sản xuất viễn thông nào đó phục vụ trong một khoảng thời gian nhất định.
Nhu cầu về truyền đưa tin tức có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, ở đâu có con người thì ở đó có nhu cầu về thông tin. Nhu cầu về truyền đưa tin tức xuất hiện không đồng đều theo các giờ trong ngày, theo các ngày trong tuần, theo các tháng trong năm. và phụ thuộc vào nhịp độ sinh hoạt của xã hội. Chính đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến công tác tổ chức sản xuất kinh doanh của ngành viễn thông.
Sự không đồng đều về tải trọng là một bài toán khó, cần bố trí phương tiện, kế hoạch phát triển mạng lưới một cách thích hợp, tránh đầu tư lãng phí, đặc biệt lưu ý đến mặt thống nhất về kỹ thuật, về nghiệp vụ trên phạm vi toàn mạng. Trình tự tiến hành công tác phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 8 viễn thông Tổ chức công tác phân tích là một công việc hết sức quan trọng, nó sẽ quyết định chất lượng và kết quả công tác phân tích. Thông thường việc phân tích được tiến hành theo trình tự sau đây: - Lập kế hoạch phân tích: Là xác định trước về nội dung, phạm vi, thời gian và cách tổ chức phân tích. Về nội dung phân tích cần xác định rõ các vấn đề cần phân tích.
Có thể là toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có thể là một khía cạnh nào đó của quá trình kinh doanh. Đây là cơ sở để xây dựng đề cương cụ thể để tiến hành phân tích. Về phạm vi phân tích có thể toàn doanh nghiệp hoặc một vài đơn vị bộ phận được chọn làm điểm để phân tích. Tùy theo yêu cầu và thực tiễn quản lý kinh doanh mà xác định nội dung và phạm vi phân tích cho thích hợp.
Về thời gian ấn định trong kế hoạch phân tích bao gồm thời gian chuẩn bị và thời gian tiến hành phân tích. Trong kế hoạch phân tích còn phân công trách nhiệm các bộ phân trực tiếp và phục vụ công tác phân tích cùng các hình thức hội nghị phân tích nhằm thu thập nhiều ý kiến, đánh giá đúng thực trạng và phát hiện đầy đủ tiềm năng cho việc phấn đấu đạt kết quả cao trong kinh doanh. - Thu thập, kiểm tra và xử lý số liệu Tài liệu sử dụng để làm căn cứ phân tích bao gồm văn kiện của các cấp bộ Đảng có liên quan đến hoạt động kinh doanh. Các nghị quyết, chỉ thị của chính quyền các cấp và cơ quan quản lý cấp trên có liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; các tài liệu kế hoạch, dự toán, định mức.
Sau khi thu thập tài liệu cần tiến hành kiểm tra tính hợp pháp của tài liệu bao gồm tính pháp lý của tài liệu (trình tự lập, ban hành, cấp thẩm quyền ký duyệt…), nội dung và phương pháp tính và ghi các con số; cách đánh giá đối với chỉ tiêu giá trị. Phạm vi kiểm tra không chỉ giới hạn các tài liệu trực tiếp làm căn cứ phân tích mà còn cả các tài liệu khác có liên quan, đặc biệt là các tài liệu gốc. - Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích 9 Tuỳ theo nội dung, nguồn tài liệu thu thập được và loại hình phân tích để xác định hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích cho thích hợp. Tuỳ theo phương tiện phân tích và trình độ sử dụng tài liệu phân tích, hệ thống chỉ tiêu được thể hiện khác nhau: có thể bằng sơ đồ khối thường dùng trong chương trình cho máy vi tính hay bảng phân tích hoặc biểu đồ.
- Viết báo cáo phân tích và tổ chức hội nghị phân tích để đưa ra các giải pháp cụ thể. Báo cáo phân tích, thực chất là bản tổng hợp những đánh giá cơ bản cùng những tài liệu chọn lọc để minh hoạ rút ra từ quá trình phân tích. Khi đánh giá cần nêu rõ cả thực trạng và tiềm năng cần khai thác. Cũng phải nêu phương hướng và biện pháp cho kỳ hoạt động kinh doanh tiếp theo.
Báo cáo phân tích cần được trình bày trong hội nghị phân tích để thu thập các ý kiến đóng góp và thảo luận cách thức thực hiện các phương hướng và biện pháp trong kỳ kinh doanh tiếp theo. Nội dung hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp viễn thông 1.