CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp các dịch vụ tài chính đa dạng bao gồm là tín dụng, tiết kiệm và thanh toán và hoạt động ngân hàng. Ở mỗi nước có một cách định nghĩa riêng về NHTM.
Tại Việt Nam, Quốc hội khóa VII vừa thông qua Luật các tổ chức tín dụng (TCTD) 2010 thay thế Luật 1997 theo đó NHTM được định nghĩa: iiNgdn hàng là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã” và “ NHTMlà loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận ”. Trong đó định nghĩa: “ Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: Nhận tiền gửi; Cấp tín dụng; Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản”. Chức năng của Ngân hàng thương mại 1.
Chức năng trung gian tín dụng Đây là chức năng quan trọng và cơ bản của NHTM, nó có ý nghĩa trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Thực hiện chức năng này, ngân hàng là người trung gian đứng ra tập trung, huy động tối đa các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế để hình thành nguồn vốn tín dụng, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. 4 Khi thực hiện chức năng, ngân hàng đã điều hòa vốn giữa nơi thừa vốn sang nơi thiếu vốn từ đó kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và kích thích quá trình phát triển tái sản xuất. Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM, nó phản ánh bản chất của NHTM là đi vay để cho vay, quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, là cơ sở để thực hiện các chức năng khác.
Chức năng làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán Thực hiện chức năng này, NHTM đứng ra làm trung gian thực hiện các khoản giao dịch giữa các khách hàng để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau. Ngân hàng có thể thực hiện các dich vụ thanh toán thông qua các tài khoản của họ bằng phương pháp thanh toán như: séc, uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thẻ thanh toán, thẻ rút tiền, thẻ tín dụng. Chức năng này góp phần làm tăng thêm lợi nhuận của NHTM thông qua việc thu phí thanh toán, đồng thời làm tăng nguồn vốn cho vay của NHTM thể hiện trên số dư tiền gửi trong tài khoản của khách hàng. Chức năng này là cơ sở hình thành chức năng tạo tiền của NHTM.
Chức năng tạo tiền Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở chức năng làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán của NHTM. Thông qua chức năng làm trung gian tín dụng, NHTM sử dụng nguồn vốn huy động được để cho vay tới khách hàng để thanh toán hàng hoá, dịch vụ. trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch. Với chức năng này, NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội.
Chức năng này cũng chỉ ra mối quan hệ giữa tín dụng ngân hàng và lưu thông tiền tệ. Một khối lượng tín dụng mà NHTM cho vay ra làm tăng khả năng tạo tiền của NHTM từ đó làm tăng lượng tiền cung ứng cho nền kinh tế. Vai trò của Ngân hàng thương mại Ngân hàng có vai trò chủ yếu sau: 5 Vai trò trung gian: Chuyển các khoản tiết kiệm, chủ yếu từ hộ gia đình thành các khoản tín dụng cho các tổ chức kinh tế và các thành phần khác để đầu tư nhà cửa, thiết bị và các tài sản khác. Vai trò thanh toán: Thay mặt khách hàng thực hiện thanh toán cho việc mua hàng hoá và dịch vụ (như bằng cách phát hành và bù trừ séc, cung cấp mạng lưới thanh toán điện tử, kết nối các quỹ và phân phối tiền giấy và tiền đúc).
Vai trò người bảo lãnh: Cam kết trả nợ cho khách hàng khi khách hàng mất khả năng thanh toán( chẳng hạn phát hành thư tín dụng). Vai trò đại lý: Thay mặt khách hàng quản lý và bảo vệ tài sản của họ, phát hành hoặc chuộc lại chứng khoán (thường được thực hiện tại phòng uỷ thác). Vai trò thực hiện chính sách: Thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ, góp phần điều tiết sự tăng trưởng kinh tế và theo đuổi các mục tiêu xã hội. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại 1.
Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản nợ) Là nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn của NHTM để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế. Để được phép hoạt động mỗi NHTM phải có một số vốn điều lệ tối thiểu bằng số vốn pháp định. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn, song nó đóng vai trò rất quan trọng, là cơ sở để tiến hành hoạt động kinh doanh và thu hút các nguồn vốn khác. Các quỹ dự trữ của NHTM là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của NHTM, xuất phát từ lợi nhuận ròng.
Trong tổng nguồn vốn hoạt động, các NHTM chủ yếu dựa vào nguồn vốn huy động và thu hút từ nền kinh tế. Đây thực chất là nguồn vốn thuộc sở hữu của khách hàng và được chuyển giao cho ngân hàng quản lý và sử dụng trong một thời gian nhất định nhưng với nghĩa vụ hoàn trả đầy đủ, kịp thời khi khách hàng yêu cầu. Nó quyết định quy mô và hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM. Nếu khả năng huy động vốn tốt, nguồn vốn tăng trưởng thì NHTM mới mở rộng cho vay và phát triển kinh doanh 6 * Tiền gửi không kỳ hạn: Là khoản tiền được khách hàng gửi vào ngân hàng không nhằm mục đích hưởng lãi mà chủ yếu là nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và thực hiện các hoạt động thanh toán qua ngân hàng.
Người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào nên nguồn vốn này thường xuyên biến động, vì vậy ngân hàng sử dụng để cho vay ngắn hạn. * Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà người gửi chỉ được rút ra sau một thời hạn nhất định. Mức lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn thường cao hơn tiền gửi không kỳ hạn nhưng người gửi tiền không được hưởng dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Mục đích của người gửi tiền là để lấy lãi.
Về nguyên tắc, tiền gửi có kỳ hạn không được rút ra trước thời hạn, song để cạnh tranh thu hút khách hàng ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút trước thời hạn và trả lãi thấp hơn lãi suất của tiền gửi có kỳ hạn. * Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ, các mức lãi tương ứng với từng kỳ hạn gửi và được ngân hàng cấp sổ, sổ này như một chứng thư xác nhận về khoản tiền đã gửi vào ngân hàng. Đây là nguồn vốn tương đối ổn định vì ngân hàng nắm được những kỳ luân chuyển vốn vì vậy ngân hàng có thể cho vay ngắn hạn, trung hay dài hạn. Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM thông qua việc phát hành các loại kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi của ngân hàng nhằm bổ sung nguồn vốn hoạt động của NHTM khi mà vốn tự có và vốn tiền gửi chưa đủ để đáp ứng yêu cầu kinh doanh.
Nguồn vốn này bao gồm: Nguồn vay từ NHNN thông qua nghiệp vụ chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn, cho vay lại thông qua hợp đồng tín dụng; vay từ các TCTD khác thông qua thị trường tiền tệ, thị trường liên ngân hàng; vay vốn từ các tổ chức tiền tệ quốc tế. Việc đẩy mạnh nguồn vốn huy động của NHTM là một trong những vấn đề quan trọng của chiến lược kinh doanh, tạo nguồn vốn để cho vay nhằm đem lại hiệu quả cho NHTM. Nghiệp vụ sử dụng vốn (Tài sản có) Nghiệp vụ sử dụng các nguồn vốn của NHTM quyết định khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM, bao gồm: • Nghiệp vụ ngân quỹ: Với mục đích đảm bảo khả năng thanh toán thường xuyên, NHTM luôn giữ một lượng tiền mặt dưới dạng sau: - Tiền mặt tại quỹ của NHTM: tuỳ theo quy mô hoạt động, thời vụ mà NHTM phải duy trì mức tồn quỹ tiền mặt để thực hiện chi trả trong ngày. - Tiền gửi tại NHTM khác: để thực hiện các nghiệp vụ thanh toán, chuyển tiền cho khách hàng.
- Tiền gửi tại NHTW: bao gồm tiền gửi dự trữ bắt buộc và tiền gửi dự trữ thanh toán để phục vụ các hoạt động thanh toán giữa các ngân hàng thông qua vai trò thanh toán của NHTW - Tiền mặt trong quá trình thu: là khoản phát sinh do quan hệ thanh toán vãng lai giữa các ngân hàng, khi ngân hàng đã ghi vào bên nợ nhưng thực chất lại chưa được nhận tiền. • Nghiệp vụ tín dụng: Phần lớn nguồn vốn của NHTM dùng để cấp tín dụng cho các đơn vị, tổ chức kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Nghiệp vụ này không chỉ có ý nghĩa đối với nền kinh tế mà còn có ý nghĩa cho chính bản thân của NHTM vì nhờ cho vay mà tạo ra nguồn thu nhập chủ yếu để bồi hoàn lãi tiền gửi cho khách hàng, bù đắp chi phí kinh doanh và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, đây là hoạt động chứa đựng nhiều rủi ro, vì vậy các NHTM phải quản lý chặt chẽ các khoản vay để ngăn ngừa và giảm thiểu rủi ro.
Các loại cho vay của NHTM rất phong phú, căn cứ vào phương pháp cho vay, mục đích sử dụng vốn vay, tính chất luân chuyển vốn, .sẽ có các loại cho vay phù hợp. • Nghiệp vụ bảo lãnh Là nghiệp vụ trong đó ngân hàng đứng ra cam kết bằng văn bản rằng sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho người được bảo lãnh nếu người này không thực 8 hiện nghĩa vụ đó. Có nhiều hình thức bảo lãnh: bảo lãnh dự thầu, thực hiện hợp đồng, hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh thanh toán,. Thông qua hoat động bảo lãnh, ngân hàng thu phí dịch vụ bảo lãnh.