Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng thương mại. Chương 2: Hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank. Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm toán nội bộ hoạt động tín dụng tại VPBank. 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ KIỂM TOÁN NỘI BỘ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI.
Cơ sở lý luận về kiểm toán nội bộ 1. Khái niệm, mục tiêu, nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ 1.Khái niệm kiểm toán nội bộ KTNB ra đời nhằm thỏa mãn các yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức chính phủ và cả các tổ chức phi lợi nhuận. Trong thời kỳ đầu trọng tâm công việc KTNB ra đời nhằm thỏa mãn các yêu cầu quản lý của các doanh nghiệp, các tổ chức; nhiệm vụ chính của KTVNB là những vấn đề về tài chính kế toán. Ủy ban chứng khoán của nhiều nước đòi hỏi các nhà quản lý của các công ty cổ phần có yết giá ở thị trường chứng khoán phải có trách nhiệm cao hơn về độ tin cậy của các báo cáo tài chính được công bố, nên đã dẫn đến sự mở rộng vai trò trách nhiệm của KTNB.
Từ đó công việc của họ bao gồm cả việc phân tích và đánh giá hệ thống kiểm soát, cũng như kiểm tra các thông tin kế toán giữa kỳ và những thông tin không được xem xét bởi các kiểm toán viên độc lập khi thực hiện kiểm toán hàng năm. Dần dần vai trò của KTNB được mở rộng nhằm hoàn thiện các chính sách và thủ tục kiểm soát đối với toàn bộ họat động của đơn vị, độ tin cậy của các báo cáo hoạt động được chú trọng. Cho đến nay KTNB có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong các chuẩn mực hành nghề KTNB, ban hành tháng 5 năm 1978 của Viện KTNB Hoa Kỳ (IIA) có định nghĩa sau đây: “KTNB là một chức năng thẩm định độc lập được thiết lập bên trong một tổ chức để xem xét đánh giá các hoạt động của tổ chức, với tư cách là một sự trợ giúp đối với tổ chức đó”.
Tháng 6 năm 1999, cũng chính Viện KTNB Hoa Kỳ đã đưa ra định nghĩa hoàn chỉnh hơn về KTNB thì “Kiểm toán nội bộ là hoạt động đánh giá 5 và tư vấn độc lập trong nội bộ tổ chức, được thiết kế nhằm cải tiến và làm tăng giá trị cho các hoạt động của tổ chức đó. Giúp tổ chức đạt được các mục tiêu bằng việc đưa ra một phương pháp tiếp cận mang tính chuẩn mực để đánh giá và nâng cao tính hiệu quả của quy trình quản lý rủi ro, kiểm soát và quản trị. Như vậy, quan điểm của IIA về kiểm toán nội bộ có thể hiểu như sau Thứ nhất, KTNB là hoạt động với hai chức năng đánh giá và tư vấn. Vì vậy, KTVNB không chỉ có năng lực chuyên môn về kiểm toán mà cần có sự am hiểu sâu sắc về hoạt động của hệ thống để đưa ra những ý kiến tư vấn hiệu quả.
Thứ hai, mặc dù là hoạt động nội kiểm nhưng KTNB vẫn phải đảm bảo tính độc lập trọng hoạt động. Thứ ba, mục tiêu cuối cùng của KTNB là nhằm cải tiến và làm gia tăng giá trị hoạt động của tổ chức. Thứ tư, phương pháp thực hiện của KTNB là đánh giá hoạt động và kiến nghị nhằm cải thiện hiệu lực của hoạt động quản trị và kiểm soát rủi ro. Theo thông tư số 44/2011/TT-NHNN ngày 29/12/2011 Quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ và kiểm toán nội bộ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì kiểm toán nội bộ được định nghĩa là việc rà soát, đánh giá độc lập, khách quan đối với hệ thống kiểm soát nội bộ; đánh giá độc lập về tính thích hợp và tuân thủ quy định, chính sách nội bộ, thủ tục, quy trình đã được thiết lập trong tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; đưa ra kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của các hệ thống, quy trình, quy định, góp phần bảo đảm tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, hiệu quả, đúng pháp luật.
Về cơ bản thì định nghĩa trên cũng có nhiều điểm tương đồng với khái niệm của IAA về mục tiêu, chức năng và phương pháp KTNB. 6 Tóm lại, về bản chất có thể hiểu KTNB là một bộ phận chuyên trách, hoạt động độc lập, khách quan được thành lập trong nội bộ một tổ chức, nhằm đưa ra những đánh giá, tư vấn đối với những hoạt động hiện tại của tổ chức từ đó nâng cao hiệu quả quản lý rủi ro cũng như giá trị nội tại của tổ chức đó. Cũng theo như quyết định số 44/2011/TT-NHNN, thì KTNB tại các TCTD có một số chức năng, nhiệm vụ, nguyên tắc như sau: 1. Chức năng của kiểm toán nội bộ Chức năng kiểm tra: là việc sử dụng các biện pháp kỹ thuật để xem xét, đối chiếu mức độ trung thực của các thông tin, tài liệu và tính hợp pháp của việc thực hiện các nghiệp vụ hay lập các bản khai tài chính.
Chức năng đánh giá: Thông qua kiểm tra, KTNB thực hiện đánh giá tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các số liệu, thông tin, tài liệu được kiểm tra. Chức năng xác nhận: Thông qua kiểm tra, đánh giá, KTNB xác nhận thực trạng của thông tin đã kiểm tra về tính đúng đắn, trung thực và hợp pháp của các thông tin đó. Chức năng tư vấn: Trên cơ sở những phát hiện trong quá trình kiểm tra, đánh giá, KTNB đề xuất và tư vấn giải pháp để khắc phục sai sót, cải tiến và hoàn thiện HTKSNB, giúp ngân hàng đạt được mục tiêu của mình. Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ Thứ nhất, thẩm tra tính phù hợp, tính hiệu lực và hiệu quả của HTKSNB.
Từ đó để khẳng định rằng HTKSNB vận hành chính xác và có hiệu quả, đáp ứng mọi mục tiêu đã đề ra khi xây dựng hệ thống. Thứ hai, kiểm tra và xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, số liệu tài chính được kiểm tra. Thứ ba, kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh, đặc biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị, của Ban Giám đốc. 7 Thứ tư, kiểm tra và phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài sản của tổ chức.
Thứ năm là nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý và điều hành của tổ chức góp phần ngăn chặn và xử lý các rủi ro. Nguyên tắc của kiểm toán nội bộ Tính độc lập: bộ phận KTNB độc lập với các đơn vị, các bộ phận điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng; hoạt động KTNB độc lập với các hoạt động điều hành, tác nghiệp của tổ chức tín dụng. Tính khách quan: bộ phận KTNB, KTVNB phải đảm bảo tính khách quan, trung thực, công bằng, không định kiến khi thực hiện nhiệm vụ KTNB. Tính chuyên nghiệp: KTVNB phải là người có kiến thức, trình độ và kỹ năng kiểm toán nội bộ cần thiết, không kiêm nhiệm các cương vị, các công việc chuyên môn khác của tổ chức tín dụng.
Nội dung kiểm toán nội bộ Theo tác giả Victor Z. Brink, nội dung và phạm vi công KTNB bao gồm 6 điểm chính như sau: Thứ nhất, KTNB cần xem xét, đánh giá tính đầy đủ và hiệu quả của HTKSNB của tổ chức và chất lượng thực thi trách nhiệm được giao. Việc thẩm tra tính đầy đủ là để xác định một cách chắc chắn liệu hệ thống được thực thiết lập có đảm bảo việc thực hiện các mục tiêu một cách có hiệu quả và tiết kiệm hay không, mục đích của việc đánh giá tính hiệu quả là để đảm bảo hệ thống đang hoạt động như mong muốn; còn mục đích của việc đánh giá chất lượng là để xác định một cách chắc chắn rằng mục tiêu của tổ chức đã và đang được thực hiện. 8 Thứ hai, KTNB phải thẩm tra tính xác thực của các thông tin tài chính, thông tin nghiệp vụ và các phương tiện đã sử dụng để xác định, định lượng và phân loại các thông tin đó.
Như vậy, KTVNB cần kiểm tra để xác nhận thông tin trên sổ sách, BCTC là chính xác, tin cậy đồng thời đánh giá việc kiểm soát sổ sách ghi chép và thông tin báo cáo có đầy đủ và hiệu quả không. Thứ ba, KTVNB cần kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, thủ tục, pháp luật và các quy định có ảnh hưởng quan trọng tới các nghiệp vụ của tổ chức. Nội dung công việc này bao gồm việc bảo vệ cho tổ chức trước những chi phí phát sinh do việc không tuân thủ các quy định gây ra và tìm kiếm những biện pháp cải tiến hệ thống kiểm soát để nâng cao mức độ tuân thủ. Thứ tư, KTVNB cần kiểm tra các biện pháp bảo vệ tài sản của tổ chức trước các hành vi trộm cắp, hỏa hoạn, sử dụng sai hoặc bất hợp pháp cũng như thẩm tra sự tồn tại của những tài sản đó.
KTVNB cần dựa trên mức độ rủi ro và tổn thất của tổ chức đối với từng loại tài sản khác nhau để có đánh giá thính hợp. Thứ năm, KTVNB phải đánh giá tính tiết kiệm và tính hiệu quả của các nguồn lực được sử dụng. Thông thường, KTVNB cần đánh giá xem cơ sở vật chất có được tận dụng tối đa không, năng suất công việc, mức độ tốn kém của các thủ tục và tình trạng thừa hoặc thiếu nhân sự tại đơn vị. Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy, nội dung của KTNB được thể hiện thông qua một số loại hình kiểm toán dựa trên một số tiêu chí.
Nếu dựa trên đối tượng của kiểm toán, KTNB thường được chia làm kiểm toán tài chính, kiểm toán hoạt động, kiểm toán liên kết. Thứ nhất là kiểm toán tài chính: Là việc kiểm tra xác nhận tính trung thực và tính hợp lý của các BCTC, báo cáo kế toán quản trị đồng thời xem xét 9 sự phù hợp của các loại báo cáo đó với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán và yêu cầu quản lý. Thứ hai là kiểm toán hoạt động. Nội dung của kiểm toán hoạt động là việc huy động, sử dụng các nguồn lực có hiệu quả và tiết kiệm không, kiểm toán hiệu quả các giai đoạn sản xuất kinh doanh, kiểm soát tính hiệu quả và tiết kiệm của việc thực hiện các chính sách nhân sự.
Thứ ba là kiểm toán liên kết giữa kiểm toán tài chính và kiểm toán hoạt động.