mở đầu, người tham gia và có khi là người nâng đỡ đối với mọi quá trình sản xuất. Chính vì vậy mà nếu tín dụng không tạo được tiền nhằm mở ra các quá trình sản xuất và thúc đẩy các hoạt động của nó sẽ không tạo được các nguồn tích lũy cần thiết cho chính bản thân ngân hàng thương mại và cho cả nền kinh tế. Đặc biệt cần lưu ý rằng, quá trình tích lũy và sử dụng vốn trong xã hội luôn luôn diễn ra không giống nhau, có lúc tạm thời thừa, có lúc lại xuất hiện nhu cầu bổ sung vốn. Ngân hàng thương mại với vai trò của mình đã khắc phục được tình hình này, sử dụng tốt nhất vốn tạm thời thừa của nền kinh tế, đồng thời bổ sung đúng lúc nhu cầu vốn khi cần.
Mặt khác, xét ở tầm vĩ mô, một nguyên tắc quan trọng cần phải tuân thủ là cung tiền tệ phải vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng dự kiến. Tiền cung ứng tăng quá nhanh, lạm phát tất yếu sẽ xuất hiện, và những hậu quả xấu mà nó gánh ra nền kinh tế sẽ phải gánh chịu. Trong ý nghĩa đó, các ngân hàng thương mại trong mối quan hệ với ngân hàng trung ương sẽ thực hiện chính sách này. Và nói như Lê Văn Tề , Hồ Diệu, Ngô Hướng, Đặng Chí Chơn, Đỗ Linh Hiệp (1993) “tín dụng SVTH: Nguyễn Văn Trọng Nhân 8 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS.
Hoàng Văn Liêm ngân hàng sẽ thực hiện vai trò của nó như là một kênh dẫn để thông qua đó, tiền cung ứng được tăng lên hoặc giảm xuống phù hợp với chính sách tiền tệ quốc gia”. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại NHTM là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ, có những đặc thù riêng về kinh tế - tài chính. Các hoạt động chủ yếu của ngân hàng thương mại bao gồm: 1. Hoạt động huy động vốn Đây là hoạt động phản ánh quá trình hình thành nguồn vốn phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
Và nguồn vốn được huy động dưới các hình thức như: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn các loại tiền gửi khác của các khách hàng cá nhân, các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác. Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước. Vay vốn của các tổ chức tín dụng khác hoạt động tại Việt Nam và của tổ chức tín dụng nước ngoài. Vay vốn ngắn hạn của Ngân hàng Nhà nước.
Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Nội dung của hoạt động huy động vốn sẽ được chi tiết hóa hơn nữa ở những phần sau của đề tài. Hoạt động tín dụng Ngân hàng thương mại được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới các hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác, bão lãnh, cho thuê tài chính và các hình thức khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. Trong các hoạt động tín dụng, cho vay là hoạt động quan trọng và chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Cho vay: Ngân hàng thương mại được phép cho các cá nhân, tổ chức vay vốn dưới các hình thức sau: Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống. SVTH: Nguyễn Văn Trọng Nhân 9 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Hoàng Văn Liêm Cho vay trung và dài hạn để thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh dịch vụ và đời sống. Bảo lãnh: Ngân hàng thương mại được bảo lãnh vay, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh đấu thầu và các hình thức bảo lãnh ngân hàng khác bằng uy tín và bằng khả năng tài chính của mình đối với người nhận bảo lãnh.
Mức bảo lãnh đối với một khách hàng thương mại không được vượt quá tỷ lệ so với vốn tự có của ngân hàng thương mại. Chiết khấu: Ngân hàng thương mại được chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với tổ chức, cá nhân và có thể tái chiết khấu các thương phiếu và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác đối với các tổ chức tín dụng khác. Cho thuê tài chính: Ngân hàng thương mại được hoạt động cho thuê tài chính nhưng phải thành lập công ty cho thuê tài chính riêng. Việc thành lập, tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính thực hiện theo Nghị định của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính.
Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ Để thực hiện các dịch vụ thanh toán giữa các doanh nghiệp thông qua ngân hàng, ngân hàng thương mại được phép mở tài khoản cho khách hàng trong và ngoài nước. Để thực hiện thanh toán giữa các ngân hàng với nhau thông qua Ngân hàng Nhà nước, ngân hàng thương mại phải mở tài khoản tiền gửi tại Ngân hàng Nhà nước nơi ngân hàng thương mại đặt trụ sở chính và duy trì tại đó số dư tiền gửi dự trữ bắt buộc theo quy định. Ngoài ra, chi nhánh của ngân hàng thương mại được mở tài khoản tiền gửi tại chi nhánh Ngân hàng Nhà nước tỉnh, thành phố nơi đặt trụ sở của chi nhánh. Hoạt động dịch vụ thanh toán và ngân quỹ của ngân hàng thương mại bao gồm các hoạt động như: Cung cấp các phương tiện thanh toán.
Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng. Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ. Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của Ngân hàng Nhà nước. SVTH: Nguyễn Văn Trọng Nhân 10 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS.
Hoàng Văn Liêm Thực hiện các dịch vụ thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép. Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng. Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên ngân hàng trong nước. Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được Ngân hàng Nhà nước cho phép.
Các hoạt động khác Ngoài các hoạt động chính đã kể ở trên, ngân hàng thương mại còn có thể thực hiện một số hoạt động khác, bao gồm: Góp vốn và mua cổ phần: Ngân hàng thương mại được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trự để góp vốn mua cổ phần của các doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng khác trong nước theo quy định của pháp luật. Ngoài ra, ngân hàng thương mại còn được góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập ngân hàng liên doanh. Tham gia thị trường tiền tệ: Ngân hàng thương mại được tham gia thị trường tiền tệ theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, thông qua các hình thức mua bán công cụ của thị trường tiền tệ. Kinh doanh ngoại hối: Ngân hàng thương mại được phép trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường trong nước và thị trường quốc tế.
Ủy thác và nhận ủy thác: Ngân hàng thương mại được ủy thác. Nhận ủy thác làm đại lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác, đại lý. Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng thương mại được cung ứng dịch vụ bảo hiểm, được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm theo quy định của pháp luật. Tư vấn tài chính: Ngân hàng thương mại được cung ứng các dịch vụ tư vấn tài chính, tiền tệ cho khách hàng dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập các công ty tư vấn trực thuộc ngân hàng.
SVTH: Nguyễn Văn Trọng Nhân 11 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Hoàng Văn Liêm Bảo quản vật quý giá: Ngân hàng thương mại được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm đồ và các dịch vụ khác có liên quan theo quy định của pháp luật. Tổng quan về vốn và hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về vốn của ngân hàng thương mại 1.
Vốn của ngân hàng thương mại là gì? Như chúng ta đã biết, vốn là tiền đề của hoạt động kinh doanh trong toàn xã hội nói chung và của mỗi doanh nghiệp nói riêng, mọi doanh nghiệp đều có nhu cầu to lớn về vốn để vận hành và phát triển. Trong cơ chế thị trường, lượng vốn kinh doanh biểu hiện thế lực và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, có tầm quan trọng đối với sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp trên thị trường. Chính vì vậy, thị trường tài chính mà trong đó vai trò chủ chốt là các ngân hàng thương mại luôn có mối quan hệ khăng khít cho hoạt động sản xuất kinh doanh, là nguồn huyết mạch cung cấp cho doanh nghiệp sức sống để tồn tại và phát triển. Đây là căn nguyên làm cho các ngân hàng thương mại trở thành một trong những định chế tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia.
Trên cơ sở đó, vốn của ngân hàng thương mại có thể được định nghĩa như sau “ Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”. Hay có thể hiểu “Nguồn vốn huy động là những khoản tiền và tài sản của các chủ sở hữu khác nhau trong xã hội mà ngân hàng được phép thu hút và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả đầy đủ và đúng hạn cả gốc và lãi”. Trên cơ sở đó, hoạt động huy động vốn là nghiệp vụ không thể thiếu của ngân hàng thương mại. Mục tiêu của hoạt động này không chỉ dừng lại ở việc tạo vốn cho ngân hàng mà còn là điều kiện để ngân hàng mở rộng công tác cho vay, tăng cường nguồn vốn cung ứng cho nền kinh tế, đồng thời mang lại cho ngân hàng nhiều lợi nhuận.
Khái niệm trên đây đã cho ta thấy những thành phần chính tạo nên nguồn vốn của ngân hàng thương mại, đồng thời cũng thể hiện tầm quan trọng của nguồn vốn huy SVTH: Nguyễn Văn Trọng Nhân 12 Khóa luận tốt nghiệp Đại học GVHD: TS. Hoàng Văn Liêm động trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng.