LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Năm 2006, Việt Nam gia nhập WTO, mở ra một thời kì mới cho thƣơng mại quốc tế của Việt Nam. Sau sự kiện trọng đại này, kinh tế Việt Nam chuyển mình, nỗ lực kết nối toàn cầu. Hoạt động xuất nhập khẩu do đó không ngừng phát triển dẫn đến nhu cầu thanh toán quốc tế tăng cao.
Có thể nói, TTQT là cầu nối giữa bên mua và bán ở hai nƣớc khác nhau, hoạt động trao đổi chỉ có thể diễn ra nếu hai bên có thể thanh toán và nhận đƣợc thanh toán. Trong TTQT, các ngân hàng đóng vai trò trung gian thanh toán, là cầu nối giữa ngƣời mua và ngƣời bán , nƣớc này với nƣớc khác. Bằng các phƣơng thức thanh toán quốc tế nhƣ chuyển tiền, nhờ thu, TDCT,… việc thanh toán giữa các nƣớc đã trở nên mƣợt mà và không còn là trở ngại trong quá trình trao đổi hàng hoá. Sự tăng trƣởng mạnh mẽ của nhu cầu TTQT khiến vai trò của ngân hàng trở nên quan trọng hơn trong TTQT, không chỉ chuyển tiền nƣớc ngoài, ngân hàng còn đảm bảo cho chính bên mua – bán hàng và tài trợ cho các hợp đồng thƣơng mại lấy lãi suất nhƣ một khoản tín dụng.
Tuy nhiên, trong tất cả các phƣơng thức TTQT hiện nay thì TDCT là một trong những phƣơng thức phổ biến nhất trong. TDCT cũng đem lại nhiều lợi nhuận cho các ngân hàng nhờ việc thu phí phát hành, thông báo, tài trợ, … Ngoài ra, TDCT còn giúp các ngân hàng mở ra nhiều cơ hội khác về kinh doanh ngoại hối, vốn nƣớc ngoài và cơ hội kết nối toàn cầu với nƣớc ngoài.Do vậy, TDCT đƣợc coi là một “miếng bánh thị trƣờng” hứa hẹn mang lại lợi nhuận cao mà các ngân hàng đang nỗ lực để chiếm thị phần. Không nằm ngoài cuộc đua tăng trƣởng TDCT, ngân hàng BIDV đang rất nỗ lực để cạnh tranh với các NHTM , chi nhánh Thành Đô là một trong những chi nhánh mũi nhọn của BIDV trong cuộc cạnh tranh này. Chính vì vậy, chi nhánh đƣợc thành lập trên địa bàn quận Long biên, một trong những khu vực có tốc độ phát triển nhanh nhất của cả nƣớc, là nơi có nhiều khu công công nghiệp và công ty XNK với kì vọng trở thành lựa chọn ƣu tiên số một của các doanh nghiệp trong TTQT.
Tuy nhiên, hoạt động TDCT tại chi nhánh trong giai đoạn 2016-2019 chƣa thực sự đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu cộng với ảnh hƣởng của đại dịch toàn cầu Covid- 1 19 khiến việc tìm ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động TDCT của chi nhánh là vô cùng cấp thiết. Do vậy, tác giả quyết định chọn đề tài: “ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƢƠNG THỨC TDCT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CỔ PHẦN ĐẦU TƢ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH THÀNH ĐÔ” để nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu đề tài nghiên cứu gồm có 3 mục chính sau: Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn để đƣa ra đƣợc chỉ tiêu đánh giá TTQT theo phƣơng thức TDCT đó phân tích ra đƣợc tình hình thực tế ở chi nhánh BIDV Thành Đô. Hai là phân tích các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá đƣợc thực tế hiệu quả TDCT hiện nay ở BIDV.
Từ đó, rút ra đƣợc những vấn đề còn tồn tại gây chậm phát triển của chi nhánh. Ba là, đề xuất các giải pháp và kiến nghị giúp nâng cao chất lƣợng TTQT theo phƣơng thức TDCT tại chi nhánh 3. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của nghiên cứu là hoạt động TDCT tại chi nhánh BIDV Thành Đô. Câu hỏi nghiên cứu Những tồn tại trong hoạt động TDCT tại chi nhánh BIDV Thành Đô là gì và làm thế nào để giải quyết đƣợc những tồn tại đó để nâng cao hiệu quả hoạt động? 5.
Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi không gian: Nghiên cứu những số liệu, vấn đề thuộc nội bộ chi nhánh BIDV Thành Đô - Phạm vi thời gian: Dữ liệu thứ cấp đƣợc tiến hành thu thập dữ liệu từ các báo cáo, thống kê nội bộ của chi nhánh BIDV Thành Đô từ năm 2016-2019 2 6. Kết cấu của đề tài Kết cấu của đề tài đƣợc chia thành 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan hoạt động TTQT thep phƣơng thức TDCT Chƣơng 2: Hoạt động TTQT theo phƣơng thức TDCT tại NHTMCP Đầu tƣ và Phát triển BIDV chi nhánh Thành Đô Chƣơng 3: Giải pháp và kiến nghị đối với TTQT theo phƣơng thức TDCT NHTMCP Đầu tƣ và Phát triển BIDV chi nhánh Thành Đô 3 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƢƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ 1. Tổng quan về thanh toán quốc tế 1. Khái niệm về thanh toán quốc tế Thanh toán quốc tế là chức năng ngân hàng quốc tế của ngân hàng thƣơng mại, nó hình thành và phát triển trên cơ sở phát triển ngoại thƣơng của một nƣớc và ngân hàng thƣơng mại đƣợc nhà nƣớc cho phép làm công tác thanh toán này.
Do vậy các giao dịch thanh toán trong ngoại thƣơng đều phải qua ngân hàng. Đây là các nghiệp vụ đòi hỏi chuyên môn cao ứng dụng công nghệ ngân hàng, tạo sự hoà hợp giữa hệ thống ngân hàng Việt Nam và hệ thống ngân hàng thƣơng mại thế giới, tạo hiệu quả an toàn với ngân hàng thƣơng mại và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Qua thời gian, thanh toán quốc tế đƣợc định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau. Trong giáo trình “Thanh toán toán quốc tế và Tài trợ thƣơng mại” của GS TS Nguyễn Văn Tiến và TS Nguyễn Thị Hồng Hải, thanh toán quốc tế đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hƣởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nƣớc này với tổ chức, cá nhân nƣớc khác hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nƣớc liên quan.NGƢT Đinh Xuân Trình, Giáo trình Thanh toán quốc tế trong ngoại thƣơng: “Thanh toán quốc tế là việc thanh toán các nghĩa vụ tiền tệ phát sinh có liên quan tới các quan hệ kinh tế, thƣơng mại và các mối quan hệ khác giữa các tổ chức, các công ty và các chủ thể khác nhau của các nƣớc”.
Từ các định nghĩa trên, cho thấy thanh toán quốc tế là hoạt động diễn ra trên phạm vi toàn cầu, phục vụ các nhu cầu cá nhân, giao dịch thƣơng mại, đầu tƣ, hợp tác quốc tế thông qua mạng lƣới ngân hàng thế giới. Thanh toán giữa các nƣớc đều đƣợc tiến hành thông qua ngân hàng và không dùng tiền mặt. Chúng đƣợc hình thành và phát triển trên cơ sở các hợp đồng ngoại thƣơng và các trao đổi tiền tệ 4 quốc tế. Để đảm bảo quyền lợi của các bên tham gia cũng nhƣ kiểm soát sự lƣu chuyển tiền tệ, thanh toán quốc tế đƣợc thực hiện dựa trên nền tảng pháp luật và tập quán thƣơng mại quốc tế, đồng thời nó cũng bị chi phối bởi luật pháp của các quốc gia, bởi các chính sách kinh tế, chính sách ngoại thƣơng và chính sách ngoại hối của các quốc gia tham gia trong thanh toán.
Một số phương thức thanh toán quốc tế. Trong thanh toán quốc tế về ngoại thƣơng, các công ty xuất-nhập khẩu thƣờng lựa chọn các loại phƣơng thức: Phƣơng thức TDCT: là phƣơng thức thanh toán, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở L/C- ngân hàng phục vụ ngƣời nhập khẩu) sẽ phát hành một thƣ bảo lãnh dƣới dạng một tín dụng thƣ theo yêu cầu của ngƣời nhập khẩu, để cam kết với ngƣời xuất khẩu là sẽ trả tiền, hoặc chấp nhận trả tiền vào hối phiếu cho ngƣời xuất khẩu nếu ngƣời xuất khẩu thực hiện đúng các điều khoản đã ghi trong tín dụng, đồng thời xuất trình một bộ chứng từ thanh toán đầy đủ, đúng hạn theo quy định của thƣ tín dụng. Phƣơng thức nhờ thu: là phƣơng thức thanh toán với sự chủ động khởi sự quá trình thanh toán của ngƣời bán, ngƣời xuất khẩu. Theo phƣơng thức này, ngƣời bán, ngƣời xuất khẩu sau khi đã hoàn thành việc gửi hàng đi, hoặc là đã hoàn thành cung ứng dịch vụ cho ngƣời mua- ngƣời nhập khẩu, sẽ lập bộ chứng từ thanh toán rồi gửi đến ngân hàng của mình để nhờ thu hộ tiền từ ngƣời mua, ngƣời nhập khẩu.
Trong thanh toán quốc tế về dịch vụ và các lĩnh vực khác, ngƣời ta chọn các phƣơng thức nhƣ: Chuyển tiền: là phƣơng thức thanh toán do ngƣời mua chủ động thực hiện. Theo đó, sau khi nhận đƣợc hàng hóa hoặc nhận đƣợc bộ chứng từ hàng hóa, hoặc đã cung ứng dịch vụ, ngƣời mua sẽ lập lệnh chuyển tiền (Tranfer order) gửi đến ngân hàng của mình. Căn cứ vào lệnh chuyển tiền này, ngân hàng sẽ trích tiền trên tài khoản của ngƣời mua để chuyển trả cho ngƣời thụ hƣởng ở nƣớc ngoài. Mở tài khoản: mở tài khoản giao dịch tại ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán.
5 Thanh toán CAD: phƣơng thức trả tiền đối chứng từ (CAD), đƣợc áp dụng trong trƣờng hợp ngƣời mua- ngƣời nhập khẩu ký hợp đồng mua hàng của ngƣời bán ngƣời xuất khẩu, trong đó hàng hóa đƣợc giao nhiều lần, nhiều đợt, và ngƣời mua ủy thác cho ngân hàng nhận chứng từ và trả tiền cho ngƣời sản xuất. Mỗi phƣơng thức thanh toán đều có một quy trình riêng, có ƣu nhƣợc điểm khác nhau. Tùy trƣờng hợp cụ thể mà lựa chọn phƣơng thức thích hợp và khi đã thống nhất thì phƣơng thức thanh toán phải đƣợc khẳng định trong hợp đồng kinh tế. Tuy nhiên hiện nay, phƣơng thức TDCT là một trong những sự lựa chọn hàng đầu của doanh nghiệp nhờ tính ƣu việt của phƣơng thức này.
Tổng quan về phƣơng thức tín dụng chứng từ 1. Khái niệm tín dụng chứng từ Phƣơng thức TDCT là một phƣơng thức thanh toán trong đó, theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một thƣ tín dụng (Letter of credit), theo đó ngân hàng phát hành cam kết trả tiền hoặc chấp nhận hối phiếu cho một bên thứ ba khi ngƣời này xuất trình cho ngân hàng phát hành bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều kiện và điều khoản quy định trong L/C. Bộ chứng từ thanh toán bao gồm chứng từ thƣơng mại và chứng từ tài chính. Đây là phƣơng thức phổ biến và quan trọng trong giao dịch thƣơng mại hiện nay.
Tại Điều 2, UCP 600, TDCT đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Credit means any arrangement, however named or described, that is irrevocable and thereby constitutes a definite undertaking of the issuing bank to honour a complying presentation”.