Chương 1: Cơ sở lý luận về phát triển phương thức tín dụng chứng từ tại các ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu bằng phương thức tín dụng chứng từ tại Chi nhánh 11 TPHCM – Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện phương thức tín dụng chứng từ trong hoạt động thanh toán quốc tế tại Chi nhánh 11 TPHCM- Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN PHƯƠNG THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.
Những lý luận cơ bản về thanh toán quốc tế và phương thức tín dụng chứng từ (TDCT) 1. Lý luận chung về thanh toán quốc tế: 1. Khái niệm: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ tiền tệ, nảy sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế, giữa các tổ chức hay cá nhân nước khác; hoặc giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân hàng có liên hệ. Các phương thức thanh toán cơ bản được sử dụng trong thương mại quốc tế: Quan hệ thanh toán quốc tế được tiến hành thông qua các phương thức thanh toán.
Phương thức thanh toán là một yếu tố rất quan trọng trong các điều kiện về thanh toán thương mại quốc tế. Để phù hợp với tính đa dạng và phong phú của mối quan hệ thương mại và thanh toán quốc tế, người ta đã thiết lập những phương thức thanh toán khác nhau. Nhìn chung có các phương thức cơ bản được sử dụng để thanh toán các giao dịch quốc tế như sau, mỗi phương thức mang lại cho nhà nhập khẩu và nhà xuất khẩu những rủi ro khác nhau: 1 Bảng 1.1: Tóm tắt rủi ro của các phương thức TDCT Phương Thời gian Hàng Rủi ro đối với Rủi ro đối với thức thanh toán hóa có nhà xuất khẩu nhà nhập khẩu thông sẵn thường cho người mua Trả trước Trước khi Sau khi Không có Phụ thuộc hoàn gửi hàng thanh toàn vào nhà toán xuất khẩu để vận chuyển hàng hóa đã đặt mua Thư tín Khi việc gửi Sau khi Rất ít hoặc Việc gửi hàng đã dụng hàng được thanh không có, tùy được cam kết thực thực hiện toán thuộc vào điều hiện nhưng còn tùy kiện tín dụng thuộc vào nhà xuất khẩu có giao hàng theo đúng mô tả trong bộ chứng từ hay không 2 Hối phiếu Vào lúc xuất Sau khi Nếu hối phiếu Giống như trên trừ trả ngay trình hối phiếu thanh không được việc nhà nhập khẩu cho người mua toán thanh toán thì bị có thể kiểm tra mất hàng hàng hóa trước khi thanh toán Hối phiếu Khi đến hạn Trước Phụ thuộc vào Tương tự như trên trả chậm thanh toán hối khi người mua thanh phiếu thanh toán hối phiếu toán Ký gửi Lúc người Trước Cho phép nhà Không có, cải mua bán được khi nhập khẩu bán thiện được dòng hàng hóa thanh hàng trước khi tiền của người mua toán thanh toán cho nhà xuất khẩu Bán chịu Theo thỏa Trước Phụ thuộc hoàn Không có thuận khi toàn vào người thanh mua trả tiền như toán đã thỏa thuận 1. Lý luận chung về phương thức TDCT 1.
Khái niệm Tín dụng là quan hệ vay mượn, quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau giữa người đi vay và người cho vay dựa trên nguyên tắc hoàn trả, kèm theo lợi tức khi đến hạn. Như vậy, tín dụng có thể hiểu một cách giản đơn là một quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao tiền hoặc tài sản cho bên kia bằng nhiều hình thức: cho vay, bán 3 chịu hàng hoá, chiết khấu, bảo lãnh,… được sử dụng trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất định nào đó đã thoả thuận. Tín dụng chứng từ (Letter of credit – L/C) là một công cụ được ngân hàng phát hành nhân danh nhà nhập khẩu (người trả tiền), hứa chi trả cho nhà xuất khẩu (người nhận tiền) theo các chứng từ đúng với những điều khoản đã quy định trong đó. Ngân hàng phát hành sẽ thay mặt cho người nhập khẩu thực hiện nghĩa vụ tín dụng.
Nó cần đảm bảo việc thanh toán cho người xuất khẩu và thông báo đến người xuất khẩu những điều khoản và điều kiện của TDCT. Phương thức TDCT là phương thức thanh toán, theo yêu cầu của khách hàng, một ngân hàng sẽ phát hành một bức thư, gọi là L/C (Letter of credit – L/C), trong đó NHPH cam kết trả một số tiền nhất định cho một bên thứ ba, hoặc chấp nhận hối phiếu do bên thứ ba kí phát trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho NHPH bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những điều khoản và điều kiện quy định trong L/C. L/C là một phương tiện rất quan trọng của phương thức thanh toán TDCT. Nếu không mở được thư tín dụng thì phương thức thanh toán này không thể xác lập được và người xuất khẩu sẽ không thể giao hàng cho người nhập khẩu.
Từ khái niệm trên, ta có thể chỉ ra bản chất của nó: − L/C chính là 1 cam kết thanh toán do NHPH lập ra và đảm bảo thực hiện. − Cam kết được lập bởi sự đề nghị của nhà nhập khẩu. − Người nhận cam kết là bên thứ 3 (nhà xuất khẩu). − Đây là cam kết có điều kiện.
Nó phụ thuộc vào bên thứ 3 có đáp ứng được những điều kiện quy định trong L/C hay không. Đặc điểm Trong phương thức thanh toán TDCT, các ngân hàng tham gia chủ động và tích cực vào quá trình thanh toán. Vai trò ngân hàng trong phương thức thanh toán này là rất quan trọng. Khi ngân hàng đồng ý mở L/C cho nhà nhập khẩu chính là lúc ngân hàng phát sinh cam kết thanh toán cho người hưởng lợi (nhà xuất khẩu).
4 Trong TTQT, phương thức TDCT có các đặc điểm sau: − Độc lập với hợp đồng cơ sở và hàng hóa: Trong phương thức tín dụng chứng từ, quyền lợi và nghĩa vụ của ngân hàng phát hành không bị ràng buộc vào hợp đồng ngoại thương ngay cả khi L/C có bất cứ dẫn chiếu nào đến hợp đồng này. − Giao dịch bằng chứng từ và thanh toán chỉ căn cứ vào chứng từ: Dựa trên các yêu cầu về chứng từ thể hiện trong L/C, các ngân hàng sẽ chỉ dựa trên cơ sở chứng từ, kiểm tra việc xuất trình có phù hợp hay không. Khi chứng từ xuất trình là phù hợp, thì NHPH phải thanh toán vô điều kiện cho nhà xuất khẩu, cho dù là trên thực tế hàng hóa có thể không được giao hoặc tình trạng hàng hóa được giao không hoàn toàn đúng như ghi trên chứng từ. Như vậy việc thanh toán không hề căn cứ vào tình hình thực tế của hàng hóa.
Nếu hàng hóa không khớp với chứng từ, thì hai bên mua bán sẽ phải trực tiếp giải quyết với nhau trên cơ sở hợp đồng ngoại thương, không liên quan đến ngân hàng. − Yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của bộ chứng từ: Vì phương thức TDCT chỉ thông qua bộ chứng từ và thanh toán cũng chỉ căn cứ vào bộ chứng từ nên yêu cầu tuân thủ chặt chẽ của chứng từ (phải phù hợp với điều kiện của L/C về số loại, số lượng, nội dung chứng từ…) là nguyên tắc cơ bản của việc thanh toán theo phương thức TDCT. − Công cụ thanh toán hạn chế rủi ro hay là công cụ từ chối thanh toán và lừa đảo: Trong các phương thức thanh toán thì thanh toán bằng phương thức TDCT có ưu điểm vượt trội về sự an toàn cho các bên tham gia. Chính vì vậy mà phương thức này đã tồn tại và phát triển mạnh như ngày nay.
Tuy nhiên, phương thức này cũng tồn tại nhược điểm đó là việc thanh toán chỉ căn cứ trên chứng từ chứ không phụ thuộc vào thực tế hàng hóa do đó có thể bị lợi dụng trở thành phương tiện lừa đảo. Nhà nhập khẩu có thể dựa vào lý do bộ chứng từ xuất trình không phù hợp để từ chối nhận hàng, 5 từ chối thanh toán. Còn nhà xuất khẩu cũng có thể làm giả bộ chứng từ xuất trình phù hợp để nhận thanh toán cho dù hàng hóa không được giao hoặc giao không đúng hợp đồng. Lợi ích của các bên tham gia 1.
Các lợi ích đối với nhà xuất khẩu − Khả năng thanh toán được bảo đảm bởi NHPH, do đó nhà xuất khẩu có thể an tâm thực hiện hợp đồng. Từ đó tạo điều kiện mở rộng quan hệ thương mại quốc tế. − Nhà xuất khẩu được đảm bảo nhận được thanh toán khi xuất trình bộ chứng từ phù hợp, không phụ thuộc vào nhà nhập khẩu. Do đó không phải lo lắng về uy tín và khả năng thanh toán của nhà nhập khẩu.
− Có thể nói L/C là công cụ thanh toán đồng thời cũng là công cụ tài trợ. Với những trường hợp nhà xuất khẩu cần ứng trước để có vốn thực hiện hợp đồng xuất khẩu của mình, họ có thể nhận được tài trợ từ ngân hàng phục vụ mình. Cụ thể trong trường hợp thiếu vốn, ngân hàng có thể cung cấp cho khách hàng các khoản tín dụng hoặc các khoản cho vay trên cơ sở hàng xuất; hay có thể nhà xuất khẩu chiết khẩu bộ chứng từ để nhận thanh toán trước. Bên cạnh đó nhà xuất khẩu cũng có thể yêu cầu ngân hàng cung cấp các loại bảo lãnh thích hợp nhằm khẳng định uy tín kinh doanh trong thị trường XNK.
− Ngoài ra nhà xuất khẩu còn được ngân hàng phục vụ mình cung cấp nhiều các dịch vụ tư vấn tài chính, trợ giúp về các thủ tục trong mua bán quốc tế, hoạt động ngoại hối. Các lợi ích đối với nhà nhập khẩu − Ràng buộc trách nhiệm thực hiện hợp đồng của nhà xuất khẩu, vì nhà xuất khẩu phải làm đúng theo những yêu cầu trong L/C thì mới được thanh toán. − Vì NHPH nhận trách nhiệm thanh toán, nên nhà nhập khẩu được ngân hàng đảm bảo kiểm tra bộ chứng từ với chuyên môn và trách nhiệm cao. 6 − Được cung cấp nhiều dịch vụ: tư vấn và trợ giúp về các thủ tục của thương mại, hoạt động ngoại hối.
− Có thể tận dụng được hạn mức tín dụng của ngân hàng trong trường hợp ngân hàng cho phép kí quỹ dưới 100%. Lúc này, nhà nhập khẩu chỉ phải thực sự thanh toán tiền hàng khi nhận được bộ chứng từ hàng hóa, giảm áp lực vế vốn. − Nhà nhập khẩu cũng có thể nhận được các khoản vay để tài trợ cho tiền hàng nhập khẩu. Khoản vay này nằm trong hạn mức tín dụng nhập khẩu do lãnh đạo ngận hàng cấp cho nhà nhập khẩu.
Ngoài ra ngân hàng còn cung cấp các dịch vụ tài trợ như : các loại tài trợ phát hành thư tín dụng, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh vận đơn.