Tổng quan nghiên cứu

Khu kinh tế cửa khẩu An Giang được thành lập theo Quyết định số 107/2001/QĐ-TTg và mở rộng theo Quyết định số 65/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, bao gồm ba khu vực cửa khẩu chính là Tịnh Biên, Vĩnh Xương và Khánh Bình với tổng diện tích tự nhiên 26.583 ha. An Giang sở hữu đường biên giới dài khoảng 100km giáp Vương quốc Campuchia, dân số hơn 2,2 triệu người và duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 9,63% trong giai đoạn 2001-2010. Mặc dù được kỳ vọng trở thành động lực phát triển kinh tế vùng biên giới Tây Nam, sau 12 năm triển khai (2001-2012), công tác đầu tư cơ sở hạ tầng vẫn dở dang và thiếu đồng bộ. Nguồn vốn ngân sách nhà nước bố trí khoảng 189 tỷ đồng từ Trung ương và 50 tỷ đồng từ địa phương bị phân tán cho cả ba cửa khẩu, dẫn đến việc không khu vực nào hoàn thiện dứt điểm các phân khu chức năng.

Tại cửa khẩu Tịnh Biên, chính sách ưu đãi bán hàng miễn thuế 500.000 đồng/người/ngày tại Khu thương mại Tịnh Biên (diện tích 10,65 ha) đã tạo nên sự sôi động cục bộ trong giai đoạn đầu nhưng nhanh chóng bộc lộ nhiều hạn chế về tính bền vững. Hoạt động giao thương chủ yếu phục vụ nhu cầu mua sắm nội địa thay vì thúc đẩy xuất nhập khẩu hai chiều với Campuchia. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá toàn diện hiệu quả hoạt động của Khu kinh tế cửa khẩu An Giang, tập trung nghiên cứu điển hình tại khu vực cửa khẩu Tịnh Biên trong giai đoạn 2001-2012. Ý nghĩa của luận văn là cung cấp luận cứ khoa học và thực tiễn giúp các cơ quan quản lý nhà nước điều chỉnh chính sách, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách, thúc đẩy liên kết cụm ngành và tạo việc làm bền vững cho người dân địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hai nền tảng lý thuyết chủ đạo trong phân tích kinh tế và chính sách công:

Thứ nhất, Lý thuyết kinh tế học khu vực công của Joseph Stiglitz (1995), làm cơ sở xây dựng mô hình phân tích chi phí - lợi ích (Cost-Benefit Analysis - CBA) đối với các dự án đầu tư công. Mô hình này xem xét hai nhóm lợi ích gồm lợi ích tài chính (doanh thu, kim ngạch xuất nhập khẩu, số thu ngân sách) và lợi ích kinh tế - xã hội (giải quyết việc làm, cải thiện mức sống, chỉ số PCI, chuyển giao công nghệ), đồng thời đối chiếu với chi phí tài chính (vốn đầu tư xây dựng cơ bản, chi phí quản lý vận hành) và chi phí kinh tế - xã hội (chi phí cơ hội sử dụng đất nông nghiệp, thất thu thuế, gian lận thương mại).

Thứ hai, Lý thuyết Năng lực cạnh tranh của Michael E. Porter (2008), được Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (2013) điều chỉnh phù hợp với cấp độ địa phương. Khung phân tích bao gồm ba tầng nhân tố tác động qua lại lẫn nhau:

  • Các yếu tố nền tảng sẵn có: Vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, quy mô dân số và thị trường.
  • Năng lực cạnh tranh cấp địa phương: Cơ sở hạ tầng kỹ thuật (giao thông, điện, nước), hạ tầng xã hội và hệ thống chính sách tài khóa, tín dụng.
  • Năng lực cạnh tranh cấp doanh nghiệp: Trình độ phát triển cụm ngành, môi trường kinh doanh và năng lực chiến lược của các đơn vị kinh tế.

Ba khái niệm then chốt được sử dụng xuyên suốt gồm: khu phi thuế quan (khu vực áp dụng rào cản hải quan riêng biệt), cụm ngành kinh tế (mạng lưới liên kết không gian giữa các doanh nghiệp phụ trợ, sản xuất và dịch vụ) và chi phí cơ hội của đất (giá trị sản lượng nông nghiệp bị mất đi khi chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang thương mại - công nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp đánh giá thực chứng dựa trên khung phân tích chi phí - lợi ích:

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh An Giang, Cục Hải quan An Giang và Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên trong toàn bộ giai đoạn 2001-2012, phản ánh các chỉ tiêu về giải ngân vốn đầu tư công, kim ngạch thương mại biên giới, thu ngân sách và lưu lượng phương tiện vận tải.

Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát thực địa với cỡ mẫu 120 đối tượng, sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên trực tiếp đối với hai nhóm: các doanh nghiệp/tiểu thương kinh doanh và khách tham quan mua sắm tại ba địa bàn trọng điểm gồm Khu thương mại Tịnh Biên, Chợ Tịnh Biên và Chợ Bách hóa cửa khẩu Tịnh Biên.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích này là nhằm phản ánh chân thực các tác động phi lượng hóa của chính sách ưu đãi, nhận diện động cơ thực tế của nhà đầu tư và đo lường sự tương tác giữa các mô hình thương mại trong bán kính 1km tại khu vực biên giới.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu chỉ ra bốn phát hiện cốt lõi về thực trạng hoạt động của khu vực cửa khẩu Tịnh Biên:

Thứ nhất, mức độ đóng góp ngân sách không bền vững và phụ thuộc vào ưu đãi thuế. Trong 10 năm (2001-2010), cửa khẩu Tịnh Biên chiếm 57% tổng thu ngân sách của toàn bộ ba cửa khẩu tại An Giang. Năm 2009, khi Khu thương mại Tịnh Biên khai trương, thu ngân sách đạt đỉnh 9.145 triệu đồng, tăng gấp đôi so với mức 4.498 triệu đồng năm 2008. Tuy nhiên, sang năm 2010, con số này đã sụt giảm xuống còn 8.501 triệu đồng do hiệu ứng tâm lý chính sách ưu đãi bị điều chỉnh. Doanh thu của Khu thương mại Tịnh Biên đạt 1.355 tỷ đồng vào năm 2010 nhưng sau đó giảm dần còn 1.185 tỷ đồng năm 2011 và 1.166 tỷ đồng năm 2012.

Thứ hai, hoạt động thương mại mang tính một chiều và suy giảm xuất khẩu qua biên giới. Giá trị xuất khẩu sang Campuchia từ Khu thương mại Tịnh Biên giảm nghiêm trọng từ 8,5 triệu USD năm 2009 xuống 6 triệu USD năm 2010 và chỉ còn 1,5 triệu USD vào năm 2011. Khảo sát lưu lượng khách chỉ ra trên 90% người đến mua sắm là khách nội địa Việt Nam (trong đó khách từ các tỉnh ngoài chiếm phần lớn), trong khi lượng khách từ Campuchia chỉ chiếm tỷ lệ dưới 10% (đạt đỉnh 15.113 lượt năm 2010 nhưng giảm xuống 1.563 lượt năm 2012).

Thứ ba, sự lãng phí nghiêm trọng tại Khu công nghiệp Xuân Tô. Khu công nghiệp có quy mô 57,4 ha đã hoàn tất hạ tầng kỹ thuật từ năm 2009 với kỳ vọng phát triển công nghiệp chế biến xuất khẩu. Tuy nhiên, chỉ có 4 dự án đăng ký thuê 11 ha với tổng vốn đăng ký 212 tỷ đồng, nhưng thực tế chỉ có 2 dự án giải ngân được khoảng 7 tỷ đồng rồi tạm ngừng hoạt động do bất lợi về hạ tầng kết nối đường thủy và thị trường tiêu thụ. Đến năm 2012, địa phương phải xin chuyển đổi một phần diện tích sang đất công trình đô thị.

Thứ tư, cạnh tranh triệt tiêu nội bộ và gia tăng chi phí kinh tế - xã hội. Việc tồn tại cùng lúc ba mô hình chợ trong bán kính 1km (Khu thương mại 10,65 ha, Chợ Tịnh Biên 5.640 m2 với 510 ki-ốt, Chợ Bách hóa 5.000 m2 với 178 ki-ốt) đã phân tán nguồn lực. Khoảng 50% tiểu thương tại Chợ Bách hóa là người từ Chợ Tịnh Biên sang thuê thêm ki-ốt nhằm chiếm lĩnh vị trí. Chi phí cơ hội do mất đất lúa ước tính khoảng 128,865 triệu đồng/năm đối với Khu thương mại và 694,54 triệu đồng/năm đối với Khu công nghiệp Xuân Tô (tính theo năng suất lúa 5,5 tấn/ha và giá 5.500 đồng/kg). Ngoài ra, tình trạng buôn lậu qua biên giới diễn biến phức tạp, riêng năm 2011 lực lượng chức năng đã bắt giữ 51 vụ với tổng trị giá tang vật hơn 1,7 tỷ đồng.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu chứng minh rằng hoạt động của khu vực cửa khẩu Tịnh Biên rơi vào trường hợp chưa đạt hiệu quả thực chất khi so sánh tổng hòa lợi ích và chi phí. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc chính sách ưu đãi bán hàng miễn thuế chỉ kích thích hoạt động thương mại tiêu dùng ngắn hạn, tận dụng cơ chế hoàn thuế giá trị gia tăng và miễn thuế tiêu thụ đặc biệt (rượu, bia, mỹ phẩm) để tiêu thụ nội địa thay vì hình thành chuỗi giá trị sản xuất xuất khẩu.

Khi trình bày qua các biểu đồ phân tích xu hướng kim ngạch và phân bổ ngân sách, có thể thấy rõ sự tương phản giữa mức đầu tư hạ tầng đơn lẻ và khả năng tạo giá trị gia tăng. Dữ liệu trên biểu đồ kim ngạch xuất nhập khẩu thể hiện mức tăng đột biến năm 2009 nhưng nhanh chóng thoái trào, phản ánh tính thời vụ phụ thuộc vào mùa lễ hội Bà Chúa Xứ Núi Sam (khoảng 5 tháng đầu năm).

So sánh với mô hình Khu kinh tế cửa khẩu Hà Khẩu tại tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), nơi đạt tổng giá trị sản lượng công nghiệp 24,3 tỷ nhân dân tệ với tốc độ tăng trưởng 39,6%/năm nhờ cơ chế đổi đất lấy hạ tầng công nghệ cao, hay bài học của Thái Lan với tốc độ tăng trưởng thương mại biên giới 20,9%/năm thông qua kết nối hạ tầng vùng và hiệp định vận tải thông suốt, cửa khẩu Tịnh Biên hoàn toàn thiếu vắng sự hiện diện của một cụm ngành liên kết. Điều này lý giải vì sao dù chỉ số PCI của An Giang duy trì ở nhóm tốt (xếp thứ 14 toàn quốc năm 2010), huyện Tịnh Biên vẫn không thu hút được các dự án FDI sản xuất quy mô lớn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và tạo động lực cạnh tranh bền vững cho khu vực cửa khẩu Tịnh Biên, nghiên cứu đề xuất bốn nhóm giải pháp chiến lược:

Thứ nhất, tập trung vốn đầu tư dứt điểm hạ tầng giao thông huyết mạch. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang phối hợp Bộ Giao thông Vận tải ưu tiên bố trí vốn nâng cấp toàn diện Quốc lộ 91 đoạn từ thành phố Châu Đốc đến cửa khẩu Tịnh Biên, mục tiêu hoàn thành mở rộng trong giai đoạn 2013-2015 nhằm giải quyết dứt điểm điểm nghẽn ách tắc giao thông trong mùa cao điểm du lịch. Đình chỉ phương thức phân bổ vốn ngân sách dàn trải cho cả ba cửa khẩu, tập trung tối thiểu 70% nguồn lực đầu tư công giai đoạn 2013-2016 vào hạ tầng logistics cửa khẩu Tịnh Biên.

Thứ hai, tái cấu trúc không gian kinh tế và phát triển cụm ngành đặc thù. Ban Quản lý Khu kinh tế An Giang cần chuyển đổi định hướng Khu công nghiệp Xuân Tô sang mô hình Cụm công nghiệp - dịch vụ chế biến nông thủy sản và dược liệu thốt nốt. Thiết lập chuỗi liên kết giữa vùng nguyên liệu nông sản Tịnh Biên - Tri Tôn với các cơ sở chế biến sâu, hướng đến mục tiêu đạt tỷ lệ lấp đầy mặt bằng sản xuất tối thiểu 45% vào năm 2017.

Thứ ba, cải cách cơ chế ưu đãi đầu tư và đẩy mạnh thương mại song phương. Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang kiến nghị Chính phủ áp dụng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ưu đãi 10-15% cho các dự án ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp phụ trợ, thay thế dần ưu đãi bán lẻ miễn thuế đơn thuần. Chủ động phối hợp với chính quyền tỉnh Takeo (Campuchia) ký kết các thỏa thuận tạo thuận lợi cho phương tiện vận tải qua lại, phấn đấu nâng tỷ trọng giá trị hàng hóa xuất khẩu sang Campuchia tăng trưởng bình quân 15%/năm giai đoạn 2014-2020.

Thứ tư, hợp nhất quy hoạch thương mại và tinh gọn bộ máy quản lý. Ủy ban nhân dân huyện Tịnh Biên tiến hành phân định rõ phân khúc thị trường giữa Chợ Tịnh Biên (chuyên doanh sản phẩm truyền thống và đầu mối biên giới) và Chợ Bách hóa (phục vụ tiêu dùng dân sinh), chấm dứt việc cấp phép các mặt bằng thương mại trùng lặp. Đẩy mạnh triển khai dịch vụ hành chính công một cửa điện tử tại Ban Quản lý Khu kinh tế, rút ngắn 50% thời gian xử lý thủ tục cấp phép đầu tư và thông quan hàng hóa trước năm 2015.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng:

Nhóm thứ nhất: Các cơ quan hoạch định chính sách công và quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ủy ban nhân dân và Ban Quản lý Khu kinh tế các tỉnh biên giới). Công trình cung cấp phương pháp luận phân tích chi phí - lợi ích thực chứng để đánh giá tác động của các chính sách ưu đãi tài khóa, từ đó tránh việc áp dụng máy móc mô hình khu phi thuế quan thương mại.

Nhóm thứ hai: Các hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp đầu tư hạ tầng thương mại - logistics. Tài liệu giúp nhận diện chính xác cấu trúc chi phí vận hành, rủi ro pháp lý khi thay đổi chính sách thuế và tiềm năng phát triển thị trường xuất nhập khẩu qua tuyến biên giới Tây Nam.

Nhóm thứ ba: Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Quản lý kinh tế. Luận văn là case study điển hình về việc ứng dụng mô hình năng lực cạnh tranh cấp địa phương của Michael Porter vào bối cảnh thực tế tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư: Chính quyền cấp huyện và các ban quản lý chợ vùng biên giới. Kết quả khảo sát 120 mẫu thực địa cung cấp số liệu chi tiết về hành vi tiêu dùng và động thái của tiểu thương, hỗ trợ hiệu quả cho công tác quy hoạch mạng lưới thương mại bán lẻ địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Chính sách bán hàng miễn thuế tại Khu thương mại Tịnh Biên có mang lại hiệu quả bền vững không? Chính sách này không tạo ra hiệu quả bền vững. Mặc dù giúp doanh thu năm 2010 đạt 1.355 tỷ đồng, nhưng hơn 90% lượng tiêu thụ phục vụ khách du lịch nội địa nhằm hưởng chênh lệch thuế. Kim ngạch xuất khẩu sang Campuchia sụt giảm từ 8,5 triệu USD năm 2009 xuống chỉ còn 1,5 triệu USD năm 2011, trong khi tình trạng buôn lậu qua biên giới tăng cao với 51 vụ bị bắt giữ năm 2011.

Vì sao Khu công nghiệp Xuân Tô diện tích 57,4 ha gặp khó khăn trong việc thu hút đầu tư? Khu công nghiệp Xuân Tô thất bại trong giai đoạn 2009-2012 do thiếu kết nối hạ tầng giao thông đường thủy trọng yếu và tuyến Quốc lộ 91 thường xuyên quá tải. Mặc dù có 4 dự án đăng ký 212 tỷ đồng vốn, nhưng thực tế các doanh nghiệp chỉ giải ngân được khoảng 7 tỷ đồng rồi ngừng trệ do chi phí vận chuyển cao và thiếu cụm ngành công nghiệp phụ trợ liên kết.

Phương pháp chọn mẫu khảo sát trong luận văn được thực hiện như thế nào? Tác giả đã phỏng vấn ngẫu nhiên trực tiếp 120 đối tượng gồm các doanh nghiệp, tiểu thương và khách hàng tại ba địa điểm: Khu thương mại Tịnh Biên, Chợ Tịnh Biên và Chợ Bách hóa cửa khẩu. Phương pháp này đảm bảo tính khách quan khi phản ánh tỷ lệ 50% tiểu thương mở rộng quy mô để chiếm ưu thế mặt bằng và 70-90% khách mua sắm là khách vãng lai dịp lễ hội.

Bài học kinh nghiệm quốc tế nào từ Trung Quốc và Thái Lan có giá trị nhất đối với An Giang? Hai bài học quan trọng nhất là: Trung Quốc thành công tại Hà Khẩu nhờ chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp 15% tập trung vào công nghệ cao và phát triển cụm ngành thay vì bán lẻ; Thái Lan duy trì tăng trưởng thương mại biên giới 20,9%/năm nhờ hoàn thiện hạ tầng kết nối xuyên biên giới và ký kết các hiệp định vận tải tạo thuận lợi cho logistics song phương.

Đâu là giải pháp đột phá nhất để nâng cao năng lực cạnh tranh cho cửa khẩu Tịnh Biên? Giải pháp đột phá là tập trung dứt điểm nguồn vốn đầu tư công nâng cấp mở rộng Quốc lộ 91 kết nối Châu Đốc - Tịnh Biên, kết hợp chuyển đổi mô hình kinh tế từ bán lẻ miễn thuế sang phát triển cụm ngành chế biến nông sản xuất khẩu và trung tâm dịch vụ logistics kết nối trực tiếp với thị trường Campuchia.

Kết luận

Nghiên cứu mang lại những đóng góp khoa học và thực tiễn quan trọng sau:

  • Xác định rõ hiệu quả hoạt động của khu vực cửa khẩu Tịnh Biên thuộc Khu kinh tế cửa khẩu An Giang trong giai đoạn 2001-2012 là chưa đạt yêu cầu do chi phí tài chính và kinh tế - xã hội vượt trội so với lợi ích thu được.
  • Chứng minh thực nghiệm rằng chính sách bán hàng miễn thuế 500.000 đồng/người/ngày chỉ tạo hiệu ứng thương mại ngắn hạn, không xây dựng được lợi thế cạnh tranh cốt lõi cho khu vực biên giới.
  • Chỉ ra nguyên nhân hạn chế bắt nguồn từ sự phân tán nguồn vốn đầu tư công (189 tỷ đồng vốn Trung ương chia cho 3 cửa khẩu), hạ tầng giao thông Quốc lộ 91 xuống cấp và sự vắng bóng của mô hình cụm ngành liên kết.
  • Đúc kết thành công các bài học thực tiễn từ mô hình khu kinh tế cửa khẩu Hà Khẩu (Trung Quốc) và kinh nghiệm phát triển thương mại biên giới của Thái Lan để áp dụng vào thực tế địa phương.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách đồng bộ từ nâng cấp hạ tầng, quy hoạch cụm ngành nông sản đến cải cách ưu đãi thuế và tăng cường hợp tác thương mại song phương với Vương quốc Campuchia.

Để chuyển hóa các kết quả nghiên cứu thành hành động cụ thể, các cơ quan quản lý nhà nước tỉnh An Giang cần khẩn trương rà soát lại quy hoạch sử dụng đất tại Khu công nghiệp Xuân Tô và lập đề án nâng cấp hạ tầng giao thông kết nối giai đoạn 2013-2015. Các nhà hoạch định chính sách và nhà nghiên cứu quan tâm có thể tiếp tục mở rộng mô hình phân tích chi phí - lợi ích này để đánh giá tác động kinh tế tại các khu kinh tế cửa khẩu trọng điểm khác trên phạm vi toàn quốc.