CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN TÍN DỤNG VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG THÔNG TIN TÍN DỤNG. Khái quát về Hệ thống thông tin tín dụng. Khái niệm về TTTD, hệ thống TTTD. Thông tin tín dụng Thông tin tín dụng là tập hợp các dữ liệu bằng số hoặc văn bản về khách hàng có quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng.
Để có được những dữ liệu này các TCTD, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng phải tổ chức “hoạt động thông tin tín dụng”. Hoạt động thông tin tín dụng là việc thu thập, xử lý, lưu trữ và cung cấp, khai thác sử dụng thông tin tín dụng. Sản phẩm thông tin tín dụng là các báo cáo thông tin tín dụng định kỳ, đột xuất và các ấn phẩm do Trung tâm Thông tin tín dụng xây dựng trên cơ sở phân tích, tổng hợp, đánh giá thông tin về khách hàng có quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng. Dịch vụ thông tin tín dụng: là việc cung cấp các sản phẩm thông tin tín dụng; hỗ trợ giải pháp quản trị thông tin tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng; hỗ trợ, tư vấn, chuyển giao công nghệ và phần mềm quản trị thông tin tín dụng; tư vấn, hỗ trợ tìm kiếm thông tin tín dụng.
Khách hàng có quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng bao gồm: - Khách hàng là tổ chức: doanh nghiệp nhà nước, hợp tác xã, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các tổ chức khác (trừ các đối tượng là các tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng). Tập 11 đoàn, tổng công ty, công ty mẹ và mỗi đơn vị thành viên hạch toán độc lập đều xác định là một khách hàng. - Khách hàng là cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác. - Khách hàng là chủ thẻ tín dụng (cá nhân hoặc tổ chức được tổ chức tín dụng, tổ chức khác có hoạt động ngân hàng cấp thẻ tín dụng) bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ.
Hệ thống thông tin tín dụng Hệ thống TTTD ngân hàng là tập hợp các bộ phận thực hiện các khâu có quan hệ hữu cơ trong quá trình thu thập, phân tích và xử lỷ TTTD phục vụ các mục tiêu của NHTM. Hệ thống TTTD ngân hàng là một hê thống mở, ngoài 4 bộ phận như của một hệ thống thông tin chung (thu thập dữ liệu đầu vào; bộ xử lý; kho dữ liệu và bộ phận cung cấp thông tin ra), nó còn liên kết với nhiều bộ phận, đơn vị hoặc hệ thống thông tin khác trong việc thu thập thông tin đầu vào cũng như xử lý và phân phối thông tin ra. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế, hội nhập thông tin, thì không thể có một hệ thống thông tin kinh tế độc lập riêng lẻ mà phải có sự kết nối với các hệ thống thông tin trong nước và quốc tế để tận dụng khai thác tài nguyên thông tin, phân phối thông tin một cách nhanh chóng, hữu hiệu nhất. Như vậy, xét về logic, nếu nói “hệ thống ” là nói về một hệ thống cơ sở của một tổ chức thực hiện nghiệp vụ TTTD.
Trong khi đó mỗi quốc gia có thể có nhiều tổ chức thực hiện TTTD như: Cơ quan TTTD công, cơ quan TTTD tư, công ty XLTD DN. nhằm đáp ứng các yêu cầu thông tin và các đối tượng khác nhau của thị trường, như phục vụ cho hoạt động ngân hàng, đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, các DN và công chúng. Ở hầu hết các nước thì các tổ chức thực hiện TTTD thường liên kết theo các nhóm hình thành các hệ thống TTTD như: hệ thống TTTD phục vụ ngành ngân hàng hay còn gọi là hệ thống 12 TTTD ngân hàng, hệ thống TTTD phục vụ thị trường chứng khoán và một số hệ thống TTTD khác và tất nhiên cũng có những tổ chức hoạt TTTD động riêng lẻ phục vụ cho những đối tượng khác nhau. Hệ thống TTTD ngân hàng phải liên kết được với tất cả các tổ chức thực hiện TTTD ngân hàng để thu thập thông tin tập trung tạo thành một kho TTTD ngân hàng chung, xử lý tập trung, tạo ra những sản phẩm đa dạng sẵn sàng phục vụ yêu cầu thông tin của người sử dụng nhằm mục đích chính là hạn chế rủi ro tín dụng và ổn định hệ thống ngân hàng.
Đây chính là một đặc trưng quan trọng nhất của hệ thống TTTD ngân hàng. Việc liên kết ràng buộc về báo cáo và khai thác TTTD giữa các tổ chức TTTD thành một hệ thống TTTD ngân hàng thực hiện theo quy định pháp luật của từng quốc gia. Tuy nhiên mỗi tổ chức trong hệ thống đó vẫn có tính độc lập riêng, sở hữu riêng và được quyền thực hiện dịch vụ cung cấp TTTD trong những giới hạn quy định. Có thể nói hệ thống TTTD ngân hàng gồm nhiều hệ thống TTTD cơ sở liên kết chặt chẽ với nhau, mỗi hệ thống TTTD cở sở được thiết kế từ dưới lên trên thành một hệ thống tập trung, có các đặc trưng như điều khiển chung toàn bộ các hoạt động hệ thống TTTD, giới hạn dịch vụ, tăng hiệu năng và chất lượng sản phẩm, giảm không thu thập thông tin dư thừa.
Có thể gọi hệ thống TTTD ngân hàng của mỗi quốc gia là hệ thống thực hiện chia sẻ và cung cấp TTTD chủ yếu giữa các ngân hàng trong quốc gia đó. Từ đó có thể đưa ra khái niệm hệ thống TTTD ngân hàng Việt nam là hệ thống các tổ chức tham gia hoạt động TTTD, thực hiện chia sẻ và cung cấp TTTD chủ yếu giữa các ngân hàng hoạt động trên lãnh thổ Việt nam. Thực tế ở Việt nam hiện nay hệ thống TTTD ngân hàng do Trung tâm TTTD làm đầu mối liên kết thông tin với các tổ chức thực hiện TTTD tại các NHTM để chia sẻ và cung cấp thông tin với mục tiêu chính là ngăn ngừa rủi ro trong hoạt động tín dụng. * Quy trình hoạt động thông tin tín dụng: 13 * Quy trình hoạt động thông tin tín dụng: Sơ đồ 1.1: Quy trình hoạt động thông tin tín dụng 1.
Vai trò, vị trí, chức năng chủ yếu của hệ thống TTTD. Vai trò, chức năng chung của hệ thống TTTD Hệ thống Thông tin tín dụng trong thị trường tài chính góp phần: Giảm sự không cân xứng thông tin giữa những người vay và người cho vay; Cho phép người cho vay đánh giá rủi ro chính xác hơn và cải thiện chất lượng đầu tư; Dễ dàng tư vấn chọn lựa phương án và giảm chi phí tín dụng cho người vay tốt; Tăng khối lượng tín dụng. Các vai trò khác nhau về chia sẻ thông tin của thị trường tín dụng là: đưa ra các dự báo có thể từ các mô hình được công thức hoá và so sánh các dự báo này với các khả năng có thể. Nhìn chung, trao đổi thông tin về người vay có thể có 4 hiệu quả: Một là, giúp người cho vay nắm rõ về đặc tính của hồ sơ tín dụng và dự báo chính xác hơn khả năng trả nợ của người vay.
Điều này cho phép người cho vay chọn đối tác, đặt giá cho các khoản cho vay của họ tốt hơn, dễ dàng tư vấn lựa chọn khách hàng. Hai là, giảm "thuê mua thông tin" mà các ngân hàng có thể tìm kiếm từ các khách hàng của họ. Khi một ngân hàng có hiểu biết đầy đủ về một người vay, thì điều đó có thể chi phí lãi suất thấp thích hợp cho cạnh tranh tìm kiếm 14 thuê mua thông tin. Thông tin dùng chung với nhiều ngân hàng sẽ giảm chi phí công nghệ và thuê mua, bởi mỗi người cho vay đặt một giá cạnh tranh.
Tỷ lệ lãi suất thấp còn tăng lợi nhuận ròng của người vay. Ba là, tính khách quan, vô tư của Trung tâm thông tin như là một phương kế răn đe người vay. Người vay biết rằng nếu anh ta mắc tiếng xấu với tất cả những người cho vay tiềm năng khác có thể sẽ bị phá sản, cắt tín dụng, chịu chi phí cao hơn. Cơ chế này cũng thúc đẩy mạnh hơn trả nợ, giảm rủi ro đạo đức.
Bốn là, những người vay muốn dấu diếm, che đậy các khoản nợ hay có nhu cầu tín dụng từ nhiều ngân hàng cùng một lúc, nếu không giám sát chặt chẽ thì không ai nhận thấy được. Hệ thống này giúp chia sẻ cho người sử dụng biết hoặc "vạch trần" cho người cho vay toàn bộ các khoản nợ nần của những người vay và theo đó loại trừ những khoản tín dụng không hiệu quả. Tài chính người tiêu dùng là động lực phát triển kinh tế - xã hội, nhưng chưa được khai thác tốt. ở các nước châu á, sự phát triển của nó phải cùng với việc thiết lập cơ sở hạ tầng quản lý rủi ro tài chính.Thiết lập Trung tâm Thông tin tín dụng, cung cấp thông tin tích cực, tiêu cực và làm minh bạch thông tin tài chính của khách hàng, quan hệ bình đẳng giữa các khách hàng và bảo vệ những người nghèo vay vốn.
PCR thường còn bảo vệ quyền người vay, đặc biệt là người ngèo và khi luật pháp kém hiệu lực. Hệ thống báo cáo tín dụng Hệ thống báo cáo tín dụng là cơ sở và các chân rết trong phát triển " văn hoá tín dụng" ở mỗi nước. Người cho vay và người đi vay đều nhận thức sự cần thiết chia sẻ thông tin về khách hàng nhằm đưa ra các quyết định tốt nhất. Hệ thống báo cáo tín dụng hiện đại giúp người cấp tín dụng phê duyệt các khoản vay trong ít phút.
Báo cáo tín dụng cũng cho phép các ngân hàng phát hành các thẻ tín dụng cho người tiêu dùng trong cả nước. Hệ thống này 15 cung cấp những thông tin cập nhật để quyết định nhanh chóng, chính xác giao dịch với hầu hết các khách hàng tín dụng tiêu dùng. Các đối tượng tham gia trực tiếp hệ thống TTTD. Trung tâm thông tin tín dụng Trung tâm Thông tin tín dụng công có chức năng cung cấp thông tin cho Ngân hàng Trung ương để đưa ra các quy định và giám sát các tổ chức tài chính nhằm góp phần đảm bảo an toàn, phát triển bền vững hệ thống ngân hàng tài chính của mỗi nước.
Ngân hàng Trung ương phát triển các chính sách tín dụng thận trọng và các nghiệp vụ cho các tổ chức tài chính, gồm cả trong kinh doanh và quản lý rủi ro tín dụng.