Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế, hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ về quy mô kim ngạch và phương thức giao thương. Tuy nhiên, mặt trái của quá trình này là sự gia tăng và diễn biến phức tạp của các hành vi gian lận thương mại qua biên giới. Hành vi gian lận thương mại không chỉ gây thất thu lớn cho nguồn thu ngân sách Nhà nước, tạo sự cạnh tranh bất bình đẳng đối với các doanh nghiệp sản xuất chân chính trong nước, mà còn đe dọa trực tiếp đến trật tự kỷ cương kinh tế, văn hóa xã hội và an ninh chính trị quốc gia. Trước bối cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng như việc thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả (Ban Chỉ đạo quốc gia 389) và ban hành Nghị quyết số 41/NQ-CP ngày 09/06/2015 của Chính phủ về đẩy mạnh công tác đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả trong tình hình mới.

Hải quan Việt Nam giữ vai trò là lực lượng nòng cốt tại cửa khẩu, thực hiện kiểm tra nhà nước, quản lý thuế xuất nhập khẩu và kiểm soát phòng, chống vi phạm qua biên giới. Mặc dù số vụ vi phạm bị bắt giữ có xu hướng giảm qua các năm, song các thủ đoạn gian lận ngày càng tinh vi, lợi dụng tối đa các kẽ hở của chính sách quản lý rủi ro và thủ tục hải quan điện tử. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Trần Lê Hương Ly đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Giải pháp nâng cao hiệu quả chống gian lận thương mại đối với Hải quan Việt Nam" tại Khoa Kinh doanh quốc tế, Học viện Ngân hàng (năm 2018).

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích thực trạng gian lận thương mại và hoạt động chống gian lận thương mại tại Hải quan Việt Nam, từ đó xác định nguyên nhân, những khó khăn, bất cập và đề xuất hệ thống giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh của lực lượng hải quan. Để hiện thực hóa mục đích này, tác giả xác định ba nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan, phân biệt rõ hành vi này với hành vi buôn lậu.
  2. Phân tích thực trạng các phương thức, thủ đoạn gian lận thương mại và thực trạng hoạt động đấu tranh, ngăn chặn của Hải quan Việt Nam trong giai đoạn 2015–2017.
  3. Đề xuất các phương hướng, giải pháp đồng bộ và kiến nghị với các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan nhằm tăng cường hiệu quả chống gian lận thương mại đến năm 2020.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan, thực trạng diễn biến của hành vi này tại Việt Nam và các giải pháp phòng, chống của ngành hải quan. Phạm vi nghiên cứu về không gian là phạm vi hoạt động của Hải quan Việt Nam tại các cửa khẩu, cảng biển và địa bàn quản lý hải quan trên cả nước; phạm vi thời gian tập trung khảo sát dữ liệu thực tế từ năm 2015 đến năm 2017.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết, định chế quốc tế và các văn bản quy phạm pháp luật chuyên ngành:

  • Khung khái niệm và chuẩn mực quốc tế: Tác giả tiếp cận định nghĩa gian lận thương mại từ Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO) thông qua Bản khuyến nghị năm 1975, Định nghĩa Nairobi năm 1977 và định nghĩa sửa đổi tại Hội nghị quốc tế lần thứ năm về chống gian lận thương mại tại Brussels (Bỉ) năm 1995. Khung lý thuyết quốc tế còn bao gồm 16 hình thức gian lận thương mại do WCO phân loại, các quy tắc về xác định trị giá hải quan theo Điều 7 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT 1947, sửa đổi năm 1994), chuẩn mực thủ tục hải quan theo Công ước Kyoto sửa đổi năm 1999 (có hiệu lực với Việt Nam năm 2008), Công ước Nairobi năm 1977 về giúp đỡ hành chính lẫn nhau và Tuyên bố Arusha năm 1993 về liêm chính hải quan.
  • Khung pháp lý Việt Nam: Tác giả sử dụng các văn bản luật thực định làm căn cứ đánh giá, bao gồm: Luật Hải quan năm 2014, Luật Thương mại năm 2005, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Luật Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu năm 2016; các văn bản dưới luật như Nghị định số 08/2015/NĐ-CP, Nghị định số 127/2013/NĐ-CP, Thông tư số 38/2015/TT-BTC, Thông tư số 07/2017/TT-BTC quy định 73 hành vi gian lận thương mại trong lĩnh vực tài chính, Thông tư số 05/2014/TT-BCT và Thông tư số 05/2012/TT-BKHCN.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả triển khai gồm hai phương pháp chủ đạo:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Được sử dụng để hệ thống hóa các khái niệm, quy định pháp luật trong nước và quốc tế, cũng như tổng hợp kinh nghiệm nghiên cứu của các tác giả đi trước (Lê Thanh Bình, Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Hòa Bình, Vũ Ngọc Anh, Ngô Minh Hoàn...).
  • Phương pháp so sánh và thống kê mô tả: Được áp dụng để đối chiếu các quy định pháp luật còn mâu thuẫn, so sánh hành vi gian lận thương mại với buôn lậu, đồng thời thống kê số liệu vi phạm, tỷ lệ phân tích phân loại hàng hóa, kết quả truy thu thuế qua kiểm tra sau thông quan trong giai đoạn 2015–2017.

Nguồn dữ liệu của khóa luận bao gồm các báo cáo thống kê chính thức của Tổng cục Hải quan, Cục Kiểm tra sau thông quan (KTSTQ), các quyết định xử lý vi phạm của các Cục, Chi cục Hải quan địa phương (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương), kết luận thanh tra của Thanh tra Chính phủ và các tài liệu hướng dẫn của WCO.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan

Chương 1 tập trung làm rõ bản chất pháp lý, các hình thức biểu hiện, nguyên nhân và tác động đa chiều của gian lận thương mại. Tác giả phân tích định nghĩa của WCO (sửa đổi năm 1995), chỉ rõ gian lận thương mại nhằm ba mục đích: trốn thuế/phí, nhận trợ cấp/phụ cấp bất hợp pháp, và đạt lợi thế cạnh tranh không chính đáng. Ở cấp độ trong nước, khóa luận xác định gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan là hành vi vi phạm các luồng sản phẩm xuất nhập khẩu bằng cách lợi dụng sơ hở của pháp luật, chính sách nhằm lẩn tránh sự kiểm soát của Hải quan để trốn thuế và thu lợi bất chính.

Để làm rõ đối tượng nghiên cứu, tác giả thiết lập sự phân biệt mang tính bản chất giữa gian lận thương mại và buôn lậu:

Tiêu chí phân biệt Gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan Buôn lậu qua biên giới
Bản chất hành vi Sử dụng mưu trí, lợi dụng kẽ hở pháp luật, chính sách để khai báo gian dối, hoạt động công khai qua cửa khẩu. Hành động mạo hiểm, lén lút vận chuyển hàng hóa qua đường mòn, lối mở hoặc giấu kín tinh vi để tránh cửa khẩu.
Phương thức thực hiện Làm thủ tục hải quan công khai (khai báo, nộp thuế) nhưng làm giả, khai sai hồ sơ, chứng từ, mẫu mã, số lượng. Sử dụng cửu vạn, phương tiện đường biển, địa hình hiểm trở để vượt biên giới trái phép hoặc trà trộn hàng lậu.
Khả năng nhận biết Khó phát hiện vì núp bóng dưới vỏ bọc hồ sơ pháp lý hợp pháp của doanh nghiệp. Dễ nhận biết hơn khi bị lực lượng chức năng tuần tra, phát hiện bắt giữ trực tiếp.
Hậu quả và chế tài Gây thất thu thuế, phá vỡ môi trường kinh doanh; chủ yếu bị xử phạt vi phạm hành chính, truy thu thuế. Mức độ nguy hiểm cao cho trật tự quản lý kinh tế, bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Tác giả cũng viện dẫn danh mục 16 hình thức gian lận thương mại theo WCO (1995), hiện tượng gian lận chuyển tải qua nước thứ ba và 73 hành vi gian lận theo Thông tư số 07/2017/TT-BTC (phân chia thành các nhóm: thời hạn thủ tục, khai sai tên/mã/lượng/chất, hồ sơ chứng từ, ưu đãi thuế, xuất nhập cảnh, tự ý định đoạt hàng hóa, hàng gia công/SXXK, tạm nhập tái xuất và kho ngoại quan). Hậu quả của gian lận thương mại được chứng minh gây suy yếu năng lực cạnh tranh trong nước, làm thâm hụt cán cân thương mại, thất thu ngân sách, làm tha hóa đạo đức một bộ phận cán bộ công chức và đe dọa an ninh trật tự khu vực biên giới. Nguyên nhân phát sinh hành vi được tác giả đúc kết thành 5 nhóm: (1) Mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp; (2) Ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng và thương nhân còn yếu; (3) Phối hợp liên ngành thiếu đồng bộ; (4) Năng lực và phẩm chất đạo đức của cán bộ công chức hải quan còn hạn chế; (5) Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật chưa sâu rộng.

Chương 2: Thực trạng chống gian lận thương mại ở Hải quan Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn về các phương thức gian lận thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2015–2017, chia thành 7 nhóm hành vi điển hình kèm số liệu và dẫn chứng cụ thể:

  1. Khai sai tên, mã số hàng hóa: Doanh nghiệp lợi dụng việc phân luồng xanh, luồng vàng và quy định tỷ lệ kiểm tra thực tế 5% hoặc 10% container (Điều 10 Thông tư 38/2015/TT-BTC) để chuyển mã hàng chịu thuế suất cao sang mã thuế suất thấp. Dữ liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy, trong khoảng 10.000 mẫu hàng hóa phân tích phân loại trung bình mỗi năm, tỷ lệ khai đúng chỉ đạt 47%, tỷ lệ khai sai chiếm 53%, làm giảm số thuế phải nộp khoảng 7,4%. Điển hình là vụ Công ty TNHH Công nghiệp gốm sứ Dian-ya (năm 2015) khai báo 22 container tại Cát Lái là đá granit nguyên khối (thuế nhập khẩu 5%), nhưng thực tế là đá xẻ thành phẩm đã đánh bóng (thuế nhập khẩu 20%).
  2. Khai sai số lượng, trọng lượng, phẩm chất hàng hóa: Lợi dụng việc tạo thuận lợi thương mại, thông quan nhanh để khai thiếu khối lượng hoặc khai hàng tốt thành hàng phẩm cấp thấp. Điển hình, Công ty TNHH Song Lộc (năm 2015) khai 50 bơm nước tàu thuyền nhưng thực nhập 100 chiếc qua Móng Cái; năm 2017, Chi cục Hải quan cửa khẩu cảng Đình Vũ (Hải Phòng) phát hiện doanh nghiệp khai 68.800 kg nhôm hợp kim dạng thỏi nhưng thực tế lên đến 91.900 kg, trị giá hàng vi phạm gần 2,5 tỷ đồng.
  3. Gian lận qua trị giá hàng hóa: Doanh nghiệp khai báo giá giao dịch thấp hơn giá thực tế đối với các mặt hàng có thuế suất cao. Điển hình như Công ty TNHH Tài Thắng khai xe máy Trung Quốc 585 USD/chiếc, cơ quan hải quan bác bỏ trị giá và ấn định mức 650 USD/chiếc, tăng thu thuế hơn 350 triệu đồng; tình trạng sữa bột khai 150.000 đồng/hộp nhưng bán nội địa 550.000 đồng/hộp; hành vi chia nhỏ lô hàng, tháo rời cabin ô tô nguyên chiếc thành linh kiện rời để hưởng thuế thấp dựa trên kẽ hở kỹ thuật của Thông tư 05/2012/TT-BKHCN (vụ Công ty Máy nông nghiệp Việt Trung trốn hơn 1 tỷ đồng tiền thuế tại Hữu Nghị). Năm 2016, số thuế truy thu liên quan đến xác định trị giá hải quan của lực lượng KTSTQ đạt 1.115 tỷ đồng, chiếm 43% tổng số thu của toàn lực lượng.
  4. Gian lận qua xuất xứ hàng hóa (C/O): Làm giả C/O hoặc chuyển tải để mượn nhãn mác Việt Nam nhằm hưởng ưu đãi FTA/TPP hoặc trốn thuế chống bán phá giá. Điển hình là vụ Công ty TNHH Quốc Việt và Công ty TNHH Khiết Tâm (năm 2016) nhập thép Trung Quốc gắn mác Việt Nam xuất khẩu sang EU; cảnh báo của cơ quan chống gian lận EU (OLAF) về làm giả C/O và sửa đổi số lượng hàng dệt may Việt Nam sang thị trường này.
  5. Lợi dụng thủ tục hải quan điện tử (VNACCS/VCIS): Khai báo nhiều tờ khai ảo để thăm dò kết quả phân luồng; nếu trúng luồng đỏ thì hủy tờ khai hoặc xin sửa chữa; lợi dụng chữ ký số của các doanh nghiệp tuân thủ tốt để khai thuê hàng lậu. Vụ Công ty TNHH Giấy C.D khai máy lọc khí của seal giấy (thuế 0%, luồng xanh), nhưng khi chuyển luồng đỏ kiểm tra thực tế là hệ thống thùng nắp trục kín (thuế 5%), điều chỉnh tăng thu hơn 509 triệu đồng.
  6. Gian lận trong gia công, sản xuất xuất khẩu (SXXK): Lĩnh vực này có khoảng 9.000 doanh nghiệp, chiếm trên 60% kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước. Thủ đoạn phổ biến là định giá chuyển lợi nhuận giữa công ty mẹ - con, khai tăng định mức tiêu hao nguyên liệu để tẩu tán nguyên liệu miễn thuế vào thị trường nội địa. Điển hình, kiểm tra Công ty TNHH Colgate-Palmolive (Bình Dương) giai đoạn 2010–2015 phát hiện tỷ lệ hao hụt thực tế là 2% nhưng thanh khoản với hải quan là 3%, dẫn đến truy thu hơn 2,1 tỷ đồng tiền thuế; đồng thời truy thu 456 triệu đồng do không cộng khoản phí bản quyền 62 tỷ đồng trả cho công ty mẹ vào trị giá tính thuế. Tác giả cũng chỉ rõ xung đột pháp lý giữa Thông tư 38/2015/TT-BTC (bãi bỏ thủ tục khai báo định mức) và Nghị định 127/2013/NĐ-CP (vẫn xử phạt hành vi khai tăng định mức sản xuất).
  7. Gian lận qua tạm nhập tái xuất (TNTX): Doanh nghiệp không thực hiện tái xuất mà phá niêm phong, chia nhỏ lô hàng để tiêu thụ nội địa rồi bỏ trốn. Điển hình năm 2017, Công ty Thép Vạn Thành tiêu thụ nội địa hơn 5.824 tấn hàng TNTX trị giá hơn 3,9 triệu USD; một số doanh nghiệp xăng dầu đầu mối trốn tái xuất 1.724 tấn dầu, trốn 3,9 tỷ đồng thuế. Tác giả chỉ rõ mâu thuẫn giữa Thông tư 05/2014/TT-BCT (yêu cầu doanh nghiệp giải tỏa thực phẩm đông lạnh về kho bãi của mình) và Luật Hải quan 2014 (quy định cơ quan hải quan phải giám sát hàng hóa liên tục từ khi tạm nhập cho đến khi tái xuất hoàn toàn).

Phần tiếp theo của chương tổng kết hệ thống cơ sở pháp lý trong nước và quốc tế, đánh giá kết quả đạt được, đồng thời phân tích những tồn tại về sự thiếu đồng bộ của hệ thống công nghệ thông tin, năng lực chuyên môn của cán bộ kiểm tra giá và sự chồng chéo trong thẩm quyền quản lý.

Chương 3: Giải pháp tăng cường chống gian lận thương mại ở Hải quan Việt Nam

Trên cơ sở phân tích nguyên nhân và nhận diện những thuận lợi, khó khăn trong thực tiễn, Chương 3 định hình các nhiệm vụ, phương hướng đến năm 2020 và xây dựng hệ sinh thái giải pháp đồng bộ gồm:

  • Kiện toàn mô hình tổ chức và nâng cao năng lực thực thi: Tổ chức bộ máy hải quan chặt chẽ, thống nhất từ Tổng cục đến cấp cơ sở; tăng cường quán triệt, nắm vững pháp luật chuyên ngành; tiếp tục đơn giản hóa thủ tục hành chính song song với thiết lập cơ chế giám sát rủi ro; đẩy mạnh kiểm tra sau thông quan; nâng cấp hệ thống cơ sở dữ liệu doanh nghiệp và mặt hàng trên nền tảng VNACCS/VCIS.
  • Phát triển nguồn nhân lực và nghiệp vụ chuyên sâu: Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng phẩm chất chính trị, trình độ nghiệp vụ cho cán bộ công chức; thực hiện nghiêm quy tắc liêm chính hải quan (theo Tuyên bố Arusha); xây dựng chế độ đãi ngộ, khen thưởng tương xứng; tái cơ cấu lực lượng kiểm soát hải quan theo hướng chuyên sâu, hiện đại.
  • Tăng cường cơ chế phối hợp và hợp tác quốc tế: Phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trong và ngoài ngành (Công an, Quản lý thị trường, Biên phòng); mở rộng hợp tác hành chính quốc tế với cơ quan hải quan các nước và các tổ chức quốc tế (WCO) nhằm trao đổi thông tin xác minh C/O và trị giá tính thuế.
  • Hệ thống kiến nghị hoàn thiện thể chế: Kiến nghị Chính phủ phân định rõ ràng thẩm quyền giám sát đối với hàng TNTX; kiến nghị Bộ Tài chính rà soát, bãi bỏ các quy định mâu thuẫn giữa thông tư hướng dẫn và nghị định xử phạt; kiến nghị Tổng cục Thuế kết nối cơ sở dữ liệu hóa đơn điện tử; kiến nghị Viện Kiểm sát và Tòa án phối hợp chặt chẽ trong công tác điều tra, khởi tố, xử lý nghiêm các vụ án gian lận thương mại nghiêm trọng.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và lượng hóa bức tranh thực tế về tình hình vi phạm pháp luật hải quan tại Việt Nam thông qua các vụ việc cụ thể được điều tra và xử lý:

Doanh nghiệp vi phạm Địa bàn / Đơn vị phát hiện Phương thức, thủ đoạn gian lận Kết quả xử lý / Số liệu vi phạm
Công ty TNHH Công nghiệp gốm sứ Dian-ya Cảng Cát Lái (năm 2015) Khai sai tên hàng, mã số: khai đá granit khối (thuế 5%) thay vì đá xẻ thành phẩm (thuế 20%). Lập biên bản 22 container (gần 200 m³ đá xẻ); phát hiện nhập khẩu hàng chục nghìn m³ hàng năm.
Công ty TNHH Song Lộc Cửa khẩu Móng Cái (năm 2016) Khai sai số lượng: khai 50 bơm nước tàu thuyền. Thực nhập kiểm tra phát hiện 100 chiếc bơm nước.
Doanh nghiệp nhập khẩu tại Đình Vũ Cảng Đình Vũ, Hải Phòng (năm 2017) Khai sai số lượng/trọng lượng: khai 68.800 kg nhôm hợp kim dạng thỏi. Lượng hàng thực nhập lên đến 91.900 kg; trị giá vi phạm gần 2,5 tỷ đồng.
Công ty TNHH Tài Thắng Cảng Sài Gòn Khai giá thấp: khai xe máy Trung Quốc 585 USD/chiếc. Cơ quan hải quan bác bỏ giá khai báo, áp giá 650 USD/chiếc, tăng thu trên 350 triệu đồng.
Công ty Máy nông nghiệp Việt Trung Cửa khẩu Hữu Nghị (năm 2015) Gian lận trị giá: tháo rời 20 cabin xe tải thùng hoàn chỉnh, khai linh kiện rời. Ngăn chặn hành vi trốn thuế trên 1 tỷ đồng.
Công ty TNHH Giấy C.D Chi cục Hải quan Sài Gòn Khai sai mã số hàng hóa qua luồng xanh hệ thống VNACCS. Chuyển luồng đỏ kiểm tra, phát hiện thùng nắp trục kín (thuế 5%), truy thu trên 509 triệu đồng.
Công ty TNHH Colgate-Palmolive Bình Dương (kiểm tra 2010–2015) Khai tăng tỷ lệ hao hụt nguyên liệu (khai 3% so với thực tế 2%) và không khai báo phí bản quyền. Truy thu thuế nguyên liệu hơn 2,1 tỷ đồng; truy thu thuế đối với khoản phí bản quyền 62 tỷ đồng là 456 triệu đồng.
Công ty Thép Vạn Thành Kiểm tra năm 2017 Lợi dụng tạm nhập tái xuất để tiêu thụ nội địa, trốn tái xuất. Tẩu tán vào nội địa hơn 5.824 tấn hàng trị giá hơn 3,9 triệu USD.
Doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu Kiểm tra chuyên đề Trốn tái xuất xăng dầu trong loại hình tạm nhập tái xuất. Tiêu thụ nội địa 1.724 tấn dầu; trốn thuế nhập khẩu và thuế VAT 3,9 tỷ đồng.

Đóng góp khoa học và thực tiễn của đề tài được tác giả xác định thông qua việc bóc tách độc lập khái niệm và hình thức gian lận thương mại ra khỏi hành vi buôn lậu, khắc phục tình trạng nghiên cứu lồng ghép thiếu trọng tâm trong các công trình trước đây. Khóa luận phân tích chuyên sâu các thủ đoạn gian lận gắn liền với quy trình nghiệp vụ hiện đại của ngành hải quan (thủ tục hải quan điện tử VNACCS/VCIS, cơ chế quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông quan, xuất xứ trong các FTA), đồng thời chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý cụ thể giữa các thông tư và nghị định, cung cấp cơ sở thực tiễn để hoàn thiện quản lý nhà nước về hải quan.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn do điều kiện nghiên cứu:

  • Phạm vi thời gian và số liệu: Nghiên cứu giới hạn dữ liệu thống kê trong giai đoạn 2015–2017. Các số liệu vụ việc điển hình mang tính chất đại diện tại một số Cục Hải quan trọng điểm (Quảng Ninh, Lạng Sơn, Hải Phòng, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương), chưa phản ánh toàn diện số liệu tổng thể của 35 Cục Hải quan tỉnh, thành phố trên toàn quốc.
  • Biến động chính sách: Khóa luận được hoàn thành vào năm 2018, trong giai đoạn hệ thống pháp luật hải quan đang tiếp tục sửa đổi (như các dự thảo sửa đổi Thông tư 38/2015/TT-BTC) và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang bước vào giai đoạn phê chuẩn.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng đánh giá hiệu quả chống gian lận thương mại trong bối cảnh các FTA thế hệ mới (như CPTPP, EVFTA) chính thức có hiệu lực thi hành; nghiên cứu ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong phân tích quản lý rủi ro tự động; cũng như đánh giá toàn diện mô hình kiểm tra chuyên ngành tập trung tại cửa khẩu.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:

  • Giảng viên, sinh viên chuyên ngành Kinh doanh quốc tế, Kinh tế đối ngoại, Thương mại quốc tế, Quản lý hải quan và Luật kinh tế tham khảo trong nghiên cứu nghiệp vụ ngoại thương, phân loại mã số hàng hóa (HS code) và kỹ thuật xác định trị giá hải quan.
  • Chuyên viên xuất nhập khẩu, nhân viên đại lý làm thủ tục hải quan nhằm nhận diện đúng các rủi ro pháp lý, tránh các sai phạm liên quan đến định mức hao hụt gia công, C/O và khai báo tờ khai điện tử.
  • Cán bộ công chức làm công tác nghiệp vụ kiểm soát hải quan và kiểm tra sau thông quan tham khảo các phân tích về mâu thuẫn pháp lý thực tế để phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra chuyên đề.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận chỉ ra sự khác biệt căn bản nhất giữa gian lận thương mại và buôn lậu qua biên giới là gì? Khác biệt căn bản nằm ở tính chất công khai và phương thức thực hiện. Người thực hiện gian lận thương mại đến cơ quan hải quan làm thủ tục công khai, hợp pháp đưa hàng qua cửa khẩu nhưng sử dụng mưu trí lợi dụng kẽ hở pháp lý để khai sai về tên hàng, mã số, lượng, chất hoặc giá trị nhằm trốn thuế. Ngược lại, người buôn lậu thực hiện hành vi mạo hiểm, lén lút đưa hàng qua biên giới không qua cửa khẩu hoặc cất giấu bí mật để tránh hoàn toàn sự kiểm soát của hải quan, mang tính chất nguy hiểm cao hơn và bị xử lý hình sự.

2. Thủ đoạn gian lận trong định mức gia công, sản xuất xuất khẩu được tác giả minh chứng qua trường hợp thực tế nào? Tác giả minh chứng qua kết luận kiểm tra tại Công ty TNHH Colgate-Palmolive (Bình Dương). Trong giai đoạn 2010–2015, tỷ lệ hao hụt nguyên phụ liệu thực tế của công ty là 2%, nhưng khi khai báo thanh khoản với hải quan, doanh nghiệp cố tình khai tăng lên 3% (chênh lệch 1%). Lượng nguyên liệu chênh lệch này không còn trong kho thực tế do đã bị tiêu thụ nội địa trái phép, dẫn đến việc cơ quan hải quan truy thu hơn 2,1 tỷ đồng tiền thuế.

3. Tại sao thủ tục hải quan điện tử trên hệ thống VNACCS/VCIS lại bị các đối tượng lợi dụng để gian lận? Hệ thống cho phép doanh nghiệp biết trước kết quả phân luồng. Các đối tượng đã lợi dụng đặc điểm này để mở nhiều tờ khai ảo nhằm thăm dò; nếu rơi vào luồng xanh hoặc vàng (miễn kiểm tra thực tế) thì thông quan trót lọt hàng vi phạm, nếu rơi vào luồng đỏ thì hủy tờ khai hoặc xin sửa chữa. Ngoài ra, một số cá nhân còn lợi dụng việc sử dụng chữ ký số của các doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật để khai thuê hàng lậu, hoặc cố tình khai sai mã số đối với các dòng hàng có thuế suất 0% để hệ thống tự động duyệt phân luồng xanh.

4. Khóa luận đã phát hiện mâu thuẫn pháp lý nào giữa các văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý hàng tạm nhập tái xuất? Khóa luận chỉ ra sự chồng chéo giữa Thông tư số 05/2014/TT-BCT và Luật Hải quan năm 2014. Thông tư 05/2014/TT-BCT quy định trách nhiệm của doanh nghiệp là giải tỏa hàng đông lạnh từ cảng cửa khẩu về kho bãi của mình khi có ách tắc. Tuy nhiên, Luật Hải quan 2014 lại quy định cơ quan hải quan phải chịu trách nhiệm giám sát liên tục hàng hóa từ khi tạm nhập cho đến khi tái xuất hết khỏi lãnh thổ. Sự không thống nhất này tạo ra khoảng trống giám sát trong quá trình vận chuyển nội địa, khiến nhiều doanh nghiệp lợi dụng để tẩu tán hàng tiêu thụ nội địa rồi bỏ trốn.

5. Lực lượng kiểm tra sau thông quan (KTSTQ) đạt kết quả nổi bật nào trong công tác chống gian lận trị giá theo số liệu của khóa luận? Theo báo cáo của Cục KTSTQ được trích dẫn trong khóa luận, trong năm 2016, lĩnh vực có số thu truy thu lớn nhất là gian lận về trị giá hải quan, đạt 1.115 tỷ đồng, chiếm tới 43% tổng số thuế thu nộp ngân sách của toàn lực lượng kiểm tra sau thông quan.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Lê Hương Ly là công trình nghiên cứu nghiêm túc, đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và bóc tách rõ nét bản chất của gian lận thương mại trong lĩnh vực hải quan. Bằng việc phân tích sâu sắc các vụ việc thực tế trong giai đoạn 2015–2017, tác giả đã làm rõ 7 phương thức gian lận phổ biến gắn liền với cơ chế quản lý rủi ro và chỉ ra những điểm nghẽn pháp lý mang tính thực tiễn cao. Hệ thống 10 nhóm giải pháp và 4 nhóm kiến nghị được xây dựng có tính khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đấu tranh chống gian lận thương mại của Hải quan Việt Nam.