CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VẤN ĐỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐÔNG CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN CÓ TÀI SẢN ĐẢM BẢO TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á – CHI NHÁNH BÌNH DƯƠNG 1.1 KHÁI QUÁT NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐÔNG CHO VAY TIÊU DÙNG CÁ NHÂN CÓ TÀI SẢN ĐẢM BẢO TẠI NGÂN HÀNG TMCP VIỆT Á – CHI NHÁNH BÌNH DƯƠNG 1. Khái niệm về cho vay Theo Nguyễn Đăng Dờn (2007) Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Phân loại cho vay Theo Phan Thị Cúc (2008), phân loại cho vay tiêu dùng dựa vào 3 căn cứ sau: – Căn cứ vào mục đích vay: + Cho vay tiêu dùng cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho nhu cầu mua sắm, xây dựng hoặc cải tạo nhà cho khách hàng là các cá nhân, hộ gia đình. + Cho vay tiêu dùng phi cư trú: Là các khoản cho vay nhằm tài trợ cho việc trang trải các chi phí như chi phí mua sắm xe cộ, đồ dùng gia đình, chi phí cho học hành, giải trí, du lịch… – Căn cứ vào phương thức hoàn trả: + Cho vay tiêu dùng trả góp: Đây là hình thức cho vay trong đó người đi vay trả nợ (gồm cả gốc và lãi) cho ngân hàng nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định trong thời hạn cho vay, phương thức này thường áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc thu nhập từng kỳ của người đi vay không đủ để thanh toán hết một lần số nợ vay.
+ Cho vay tiêu dùng phi trả góp: Đây là hình thức cho vay mà tiền vay được khách hàng thanh toán chỉ một lần khi đến hạn. Thường thì các khoản vay tiêu dùng phi trả góp được cấp cho các nhu cầu vay nhỏ và thời hạn không dài. + Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Là khoản vay trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng hoặc ngân hàng phát hành loại séc cho phép thấu chi dựa trên số tiền trên tài khoản vãng lai. Theo phương thức này, 3 trong thời hạn tín dụng được thoả thuận trước, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập kiếm được từng kỳ, khách hàng được ngân hàng cho phép thực hiện việc vay và trả nợ nhiều kỳ một cách tuần hoàn, theo một hạn mức tín dụng.
– Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ: + Cho vay tiêu dùng gián tiếp: Là hình thức cho vay trong đó ngân hàng mua các khoản nợ phát sinh do những công ty bán lẻ đã bán chịu hàng hoá hay dịch vụ cho người tiêu dùng. + Cho vay tiêu dùng trực tiếp: Là các khoản cho vay tiêu dùng trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc và cho khách hàng vay cũng như trực tiếp thu nợ từ những người này. Khái niệm cho vay tiêu dùng Theo Trần Thị Xuân Hương – Hoàng Thị Minh Ngọc (2018): Cho vay tiêu dùng là loại hình cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng của khách hàng. Đặc điểm của cho vay tiêu dùng: - Áp dụng cho khách hàng cá nhân - Vốn tín dụng được sử dụng cho nhiều hoạt động khác nhau - Nguồn thu nợ là nguồn thu nhập thường xuyên của người đi vay.
Lợi ích: - Đối với khách hàng: góp phần đa dạng hóa các sản phẩm cho vay của ngân hàng. Phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng. Mở rộng đối tượng khách hàng giao dịch, mở rộng thị phần. - Đối với khách hàng: tiếp cận được nguồn vốn, được ngân hàng cung ứng các dịch vụ khác gắn liền với khoản tiêu vay.
Các điều kiện để vay tiêu dùng: - Có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. - Có nguồn thu nhập ổn định bảo đảm trả được nợ cho ngân hàng. - Có tài sản đảm bảo hoặc được bảo lãnh của bên thứ 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng Các nhân tố từ phía ngân hàng: - Chính sách tín dụng Hoạt động cho vay là hoạt động chủ yếu của NHTM.
Chính vì tầm quan trọng của nó, hoạt động này cần phải được thực hiện theo một chính sách rõ ràng, đó là chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng bao gồm các yếu tố giới 4 hạn tín dụng, kỳ hạn của khoản tín dụng, lãi suất cho vay, các phương thức cho vay, tài sản đảm bảo, hướng giải quyết phần tín dụng vượt giới hạn, các khoản vay có vấn đề. - Quy trình cho vay Quy trình cho vay qui định các bước cần thiết phải thực hiện trong quá trình cho vay, thu nợ, bảo đảm an toàn vốn vay. Nó bắt đầu từ việc phân tích nhu cầu cho đến khi thu hồi nợ vay gồm cả vốn lẫn lãi.
- Chất lượng cán bộ tín dụng. Chất lượng CBTD thể hiện ở trình độ nghiệp vụ, khả năng giao tiếp, kiến thức tổng hợp, trách nhiệm với công việc và cả vấn đề đạo đức của CBTD. Trong mắt khách hàng, CBTD chính là hình ảnh của NH. Vì vậy, khả năng giao tiếp tốt của họ sẽ tạo niềm tin và sự hài lòng đối với khách hàng, giúp họ nhận thức sâu sắc hơn về hình ảnh của NH.
Trình độ nghiệp vụ là yếu tố quan trọng nhất vì nó đảm bảo quá trình thực hiện nghiệp vụ nhanh chóng, chính xác và linh hoạt trong mọi tình huống khi cho vay. - Tình hình huy động vốn Đặc trưng nhất của ngành NH là “đi vay để cho vay: Bởi vậy, nếu không đi vay được, NH sẽ không có vốn để cho vay. Nguồn vốn huy động được càng lớn và đa dạng thì càng tạo điều kiện cho hoạt động cho vay phát triển. Tuy nhiên, nếu NH huy động được nhiều vốn mà không cho vay hết được số đó sẽ dẫn đến tình trạng “ứ động vốn” trong khi NH vẫn phải trả phí cho nguồn vốn đó.
Điều này sẽ ảnh hưởng đến thu nhập của NH. - Thông tin tín dụng Thông tin tín dụng là một nhân tố vô cùng quan trọng nhằm góp phần đảm bảo an toàn đối với hoạt động cho vay của NH trước những rủi ro có thể phát sinh từ phía khách hàng hoặc biến động trên thị trường. Việc duy trì nghiệp vụ thông tin tín dụng giúp tạo lập cơ sở dữ liệu tập trung về khách hàng để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lí tín dụng, quản trị rủi ro tín dụng. Hệ thống thông tin tín dụng giúp tìm kiếm và phát hiện sớm các khoản tín dụng có vấn đề và đánh giá đúng mức độ rủi ro của các khoản nợ, đồng thời tiên liệu trước khả năng một khoản tín dụng có thể chuyển sang nợ xấu.
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ ngân hàng Cở sở vật chất, trang thiết bị công nghệ của mỗi NH cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả cho vay. Đó là các công cụ, dụng cụ, phương tiện phục vụ cho việc quản lí, giám sát quá trình sử dụng vốn vay và 5 tạo điều kiện thuận tiện và thoải mái trong quá trình thực hiện giao dịch với khách hàng. Từ đó NH thực hiện nghiệp vụ nhanh chóng, chính xác và hiệu quả hơn. Nhân tố từ phía khách hàng: - Thiện chí của KHCN trong việc trả nợ ngân hàng Đây là một nhân tố có ảnh hưởng lớn tới chất lượng của khoản vay.
KHCN phải có thiện chí trả nợ thì lúc đó mới cung cấp đầy đủ và trung thực mọi thông tin về tình hình hoạt động sử dụng vốn vay của KH mình, cũng như là sử dụng vốn vay đúng mục đích như đã thỏa thuận trong hợp đồng cho vay. Chỉ khi KHCN chịu hợp tác với NH thì NH mới đảm bảo chất lượng cho vay, nếu không, dù hợp đồng cho vay có chặt chẽ thế nào thì cũng không thể đảm bảo được an toàn cho vay khoản vay của NH. Các nhân tố khác: - Môi trường kinh tế Nền kinh tế là một hệ thống bao gồm nhiều hoạt động kinh tế có liên quan, ràng buộc lẫn nhau. Bất kì sự biến động nào của một hoạt động kinh tế nào đó cũng ảnh hưởng tới việc SXKD của các lĩnh vực còn lại.
Hơn nữa, hoạt động của NHTM có thể coi là chiếc cầu nối giữa các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế. Vì vậy, sự ổn định hay bất ổn, sự tăng trưởng nhanh hay chậm của nền kinh tế sẽ có tác động mạnh mẽ tới hoạt động của các NH, đặc biệt là hoạt động cho vay cũng như hiệu quả cho vay của NH. - Môi trường chính trị - xã hội Cũng như nhân tố kinh tế, môi trường chính trị - xã hội của một quốc gia có ổn định, không có những biểu hiện tiêu cực, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các KH ổn định và phát triển, đồng thời NH cũng sẽ mạnh dạn hơn với những quyết định cho vay của mình. - Môi trường pháp lí Trong nền kinh tế thị trường, mọi thành phần kinh tế đều có quyền tự do kinh doanh nhưng phải đảm bảo trong khuôn khổ của pháp luật.
Hoạt động cho vay của NH cũng như vậy, phải tuân theo các qui định của NHNN, Luật của các TCTD, Luật dân sự và các quy định khác. Nếu những văn bản và những qui định pháp luật rõ ràng, đầy đủ, đồng bộ và ổn định sẽ là một hành lang pháp lí vững chắc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của NH, hoạt động cho vay sẽ đạt hiệu quả cao, phát huy vai trò của hệ thống NH đối với sự phát triển kinh tế xã hội. - Môi trường tự nhiên 6 Đối với các KHCN hoạt động trong những ngành nghề phụ thuộc nhiều vào các điều kiện tự nhiên hay mang tính thời vụ thì sự ảnh hưởng của môi trường tự nhiên là rất lớn. Các yếu tố tự nhiên như thiên tai, hạn hán, mất mùa, dịch bệnh….sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho cả KH và NH so việc kinh doanh của KH bị đình trệ, hiệu quả kinh doanh bị giảm sút, các khoản nợ NH bị trì hoãn, thậm chí là không trả được, ảnh hưởng tới công tác cho vay của NH.
Một số chỉ tiêu đánh giá cho vay tiêu dùng - Tỷ lệ Dư nợ/Tổng nguồn vốn (%) Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của NH.