Giải pháp tăng cường nghiệp vụ đấu thầu qua mạng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp một số giải pháp tăng cường nghiệp vụ đấu thầu qua mạng đối với các doanh, vận dụng lý thuyết vào thực tế, đề xuất giải pháp cụ

Chuyên ngành

Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

98
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Đối tượng nghiên cứu

0.4. Phương pháp nghiên cứu

0.5. Kết cấu của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ ĐẤU THẦU QUA MẠNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1.1. Khái niệm Đấu thầu

1.2. Quá trình hình thành và phát triển của Đấu thầu

1.3. Đặc điểm của hoạt động Đấu thầu

1.4. Vai trò của hoạt động Đấu thầu

1.5. Các nguyên tắc cơ bản trong Đấu thầu

1.6. Các Hình thức, Loại hình, Phương thức và Quy trình đấu thầu

1.7. Đấu thầu qua mạng

1.7.1. Khái niệm Đấu thầu qua mạng

1.7.2. Đặc điểm của Đấu thầu qua mạng

1.7.3. Vai trò của Đấu thầu qua mạng

1.7.4. Quy trình Đấu thầu qua mạng

1.7.5. Xu thế phát triển và những rào cản đối với Đấu thầu qua mạng

1.7.6. Các nhân tố ảnh hưởng đến Đấu thầu qua mạng

1.7.6.1. Cơ sở hạ tầng và trình độ khoa học công nghệ
1.7.6.2. Khuôn khổ pháp lý
1.7.6.3. Trình độ của đội ngũ cán bộ. Nhận thức, đạo đức nghề nghiệp

1.8. Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.8.1. Khái niệm Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.8.2. Đặc điểm của Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.8.3. Vai trò của Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.8.4. Thuận lợi và khó khăn của Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.9. Nghiệp vụ đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.9.1. Khái niệm nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.9.2. Đặc điểm nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.9.3. Một số nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng cơ bản đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa

1.9.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến nghiệp vụ đấu thầu qua mạng của Doanh nghiệp nhỏ và vừa

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC ĐẤU THẦU QUA MẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2016 – 2020

2.1. Tổng quan về hoạt động Đấu thầu qua mạng tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

2.2. Thực trạng Đấu thầu qua mạng tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

2.3. Đánh giá thực trạng Đấu thầu qua mạng của Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

2.4. Đánh giá nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam

2.4.1. Đối với DNNVV tổ chức đấu thầu

2.4.2. Đối với các DNNVV là nhà thầu

2.5. Đánh giá thực trạng nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020

2.6. Những kết quả đạt được

2.7. Một số tồn tại, hạn chế

2.8. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

2.9. Cơ hội và thách thức

2.9.1. Thách thức

3. CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP TĂNG CƢỜNG NGHIỆP VỤ ĐẤU THẦU QUA MẠNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN TỚI

3.1. Bối cảnh tác động đến năng lực Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong thời gian tới

3.1.1. Bối cảnh quốc tế

3.1.2. Bối cảnh trong nước

3.2. Quan điểm và Định hướng tăng cường nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong thời gian tới

3.3. Một số giải pháp tăng cường nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng đối với các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam trong thời gian tới

3.3.1. Về phía Nhà nước

3.3.2. Về phía các Doanh nghiệp nhỏ và vừa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

WEBSITE THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Đấu thầu trực tuyến

Đấu thầu trực tuyến là một hình thức hiện đại trong quy trình lựa chọn nhà thầu, giúp tăng cường tính minh bạch và hiệu quả trong hoạt động đấu thầu. Đặc biệt, doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam đang ngày càng tham gia nhiều hơn vào hình thức này. Việc áp dụng công nghệ thông tin trong đấu thầu không chỉ giúp tiết kiệm thời gian mà còn giảm thiểu chi phí cho các bên liên quan. Theo thống kê, tỷ lệ đấu thầu trực tuyến đã tăng đáng kể trong những năm gần đây, cho thấy sự chuyển mình mạnh mẽ của thị trường đấu thầu tại Việt Nam.

1.1. Khái niệm và vai trò của Đấu thầu trực tuyến

Đấu thầu trực tuyến được định nghĩa là quá trình lựa chọn nhà thầu thông qua nền tảng mạng, cho phép các bên tham gia thực hiện các bước đấu thầu một cách nhanh chóng và hiệu quả. Đấu thầu trực tuyến không chỉ giúp giảm thiểu thủ tục hành chính mà còn tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng hơn. Vai trò của đấu thầu trực tuyến trong việc nâng cao hiệu quả kinh tế và giảm thiểu tham nhũng là rất quan trọng, đặc biệt trong bối cảnh cải cách hành chínhhỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

II. Thực trạng Đấu thầu trực tuyến tại Việt Nam

Trong giai đoạn 2016-2020, hoạt động đấu thầu trực tuyến tại Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ và quy trình đấu thầu. Theo báo cáo, tỷ lệ đấu thầu trực tuyến của DNNVV chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng số gói thầu. Điều này cho thấy sự cần thiết phải có các giải pháp hỗ trợ và đào tạo cho các doanh nghiệp này.

2.1. Những thách thức trong Đấu thầu trực tuyến

Một trong những thách thức lớn nhất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa là thiếu hụt kiến thức và kỹ năng cần thiết để tham gia vào đấu thầu trực tuyến. Nhiều doanh nghiệp vẫn còn e ngại về tính bảo mật và độ tin cậy của hệ thống. Hơn nữa, công nghệ thông tin trong đấu thầu chưa được áp dụng đồng bộ, dẫn đến tình trạng không công bằng trong cạnh tranh. Việc cải cách hành chính và nâng cao nhận thức về đấu thầu trực tuyến là rất cần thiết để khắc phục những vấn đề này.

III. Giải pháp nâng cao Đấu thầu trực tuyến cho DNNVV

Để nâng cao hiệu quả của đấu thầu trực tuyến cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, cần có một số giải pháp cụ thể. Đầu tiên, cần tăng cường đào tạo doanh nghiệp về kỹ năng sử dụng công nghệ trong đấu thầu. Thứ hai, cần cải thiện hệ thống đấu thầu để đảm bảo tính minh bạch và công bằng. Cuối cùng, chính phủ cần có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho DNNVV trong việc tham gia vào đấu thầu trực tuyến.

3.1. Đào tạo và hỗ trợ doanh nghiệp

Việc đào tạo doanh nghiệp về quy trình và kỹ năng cần thiết để tham gia vào đấu thầu trực tuyến là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo nên được tổ chức thường xuyên và có sự tham gia của các chuyên gia trong lĩnh vực. Ngoài ra, cần có các chương trình hỗ trợ tài chính cho DNNVV để họ có thể đầu tư vào công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu trực tuyến.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam - Chương 2: Thực trạng công tác Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 - Chương 3: Một số giải pháp nâng cao nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 3 Luan van CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ ĐẤU THẦU QUA MẠNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm Đấu thầu Đấu thầu là một thuật ngữ chưa có một định nghĩa thống nhất trên Thế giới, mỗi ấn phẩm, tài liệu hay một số Hiệp định lại có định nghĩa khác nhau. Và không giống với Việt Nam, thế giới biết đến Đấu thầu với cái tên “Mua sắm công” hoặc “Mua sắm chính phủ”, đó cũng là thuật ngữ thông dụng được sử dụng ở các Hiệp định và các quy định quốc tế. Tuy nhiên về bản chất thì mua sắm công hay mua sắm chính phủ tương tự với Đấu thầu của Việt Nam.

Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, khoản 12, điều 4 của Việt Nam quy định khái niệm về Đấu thầu, “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Dù là Đấu thầu hay mua sắm công hay mua sắm chính phủ thì mấu chốt ở đây vẫn là quá trình chính phủ sử dụng đồng tiền công để mua sắm các loại hàng hóa, dịch vụ cho mục đích công. Sở dĩ Việt Nam có thuật ngữ Đấu thầu là do luật Đấu thầu ban đầu xuất phát từ Bộ Luật xây dựng, sau đó việc sử dụng đồng tiền công được hiểu rộng ra hơn (Đấu thầu không chỉ gói gọn trong lĩnh vực xây dựng) nên bộ Luật Đấu thầu 61/2005/QH1 và Nghị định 85/2009/NĐ-CP được ra đời với tư cách đại diện chính thức cho hoạt động Đấu thầu tại Việt Nam; và với sự nỗ lực toàn diện hoàn thiện công tác Đấu thầu, bộ Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP xuất hiện với phiên bản cải tiến, đồng điệu với quy định quốc tế hơn rất nhiều. Quá trình hình thành và phát triển của Đấu thầu 4 Luan van Ngày 10/1/1989 Bộ xây dựng có thông tư số 3 BXD_VKT hướng dẫn về đấu thầu trong xây dựng 12/2/1990 quy chế đấu thầu trong xây dựng được ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 24/BXD_VKT.

Ngày 3/1994 Bộ Xây dựng đã ban hành “Quy chế đấu thầu xây lắp” thay thế cho “Quy chế đấu thầu trong xây dựng” trước đây. Theo đó tất cả các công trình xây dựng thuộc sở hữu nhà nước phải thực hiện theo phương thức đấu thầu. Phương thức chọn thầu và chỉ định thầu chỉ áp dụng cho các công trình thuộc bí mật quốc gia, nghiên cứu thử nghiệm, cần thực hiện cấp bách. Ngày 16/4/1994 quyết định 183-TTg thì quy định về đấu thầu mới bao quát mọi lĩnh vực mua sắm.

Đây có thể coi là quy chế đấu thầu đầu tiên của Việt Nam. Từ đó quy chế đấu thầu tiếp tục được bổ sung để phù hợp hơn với tình hình đất nước. Quy chế đấu thầu lần 2 đã được ban hành kèm theo nghị định 43/1996/NĐ-CP và 9/3/1997/NĐ-CP bổ sung và hoàn thiện một số vướng mắc trong quy chế lần 1. Theo đó các doanh nghiệp 30 vốn nhà nước lựa chọn đối tác thực hiện dự án sẽ bắt buộc phải theo quy chế đấu thầu.

Các hội đồng xét thầu trước đây được thay thế bằng các tổ chuyên gia và lấy ý kiến của cơ quan chức năng. Điều quan trọng là từ quy chế lần 2 này gói thầu đã trở thành một đối tượng quản lý của công tác đấu thầu. Quy chế đấu thầu lần 3 được ban hành kèm theo nghị định 8/8/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và nghị định 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 giúp giải quyết một số vướng mắc trong thực tế, phù hợp hơn với đòi hỏi của thực tế. Theo đó các thuật ngữ khá phong phú và được định nghĩa một cách khá đầy đủ.

Trình tự đấu thầu được tăng cường hơn. Các quy định mang tính định lượng đã xuất hiện như quy định về các khoảng thời gian tối thiểu hoặc tối đa cho các công đoạn, cho mỗi quy trình thực hiện đấu thầu. Phương pháp đánh giá được quy định rõ ràng và mang tính thuyết phục. Luật đấu thầu được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua có hiệu lực thi hành kể từ Luật đấu thầu gồm 6 chương với 77 điều.

Luật được kế thừa và phát triển từ Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo các NĐ 88-CP, 14-CP và 66- CP và từ dự thảo lần 10 Pháp lệnh đấu thầu được Chính phủ thông qua. Ngày 5 Luan van 29/9/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 11/1/2006/NĐ-CP về Hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng. Mục tiêu hướng tới của Luật đấu thầu: - Quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan, đặc biệt là Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. - Nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong từng hoạt động đấu thầu, tăng cường sự phân cấp trong thực hiện, đơn giản thủ tục để đẩy nhanh tiến độ ở mọi khâu cũng như tạo điều kiện cho giám sát của cộng đồng.

- Nhằm khắc phục các tồn tại hiện hữu lạm dụng các hình thức đấu thầu kém cạnh tranh như chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế…, khắc phục tình trạng nhận thức sai về các nguồn tiền của Nhà nước, thiếu năng lực và kinh nghiệm trong thực hiện đấu thầu, cũng như tình trạng quy định chồng chéo về đấu thầu. Một số điểm mới của Luật đấu thầu so với Quy chế đấu thầu: - Chống các hoạt động khép kín trong đấu thầu dẫn đến hạn chế cạnh tranh. Tạo sự cạnh tranh trong đấu thầu có hiệu quả. - Chống mơ hồ, chống tham nhũng cao tạo sự công bằng hiệu quả.

Chất lượng đấu thầu tăng, tiết kiệm chi phí trong đấu thầu. Như vậy, đòi hỏi tổ chuyên gia đấu thầu phải am hiểu công tác đấu thầu, có đủ trình độ để thực hiện công tác đấu thầu: phải có chứng chỉ tham gia khóa học về đấu thầu. - Xử lý kiến nghị: Hình thành các tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp ra đời để phục vụ công tác đấu thầu cho các đơn vị có nhu cầu. Nhà thầu có quyền kiến nghị với bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền và có quyền khởi kiện ra tòa.

- Xử lý vi phạm: Thể hiện tại điều 12- Các hành vi bị cấm trong đấu thầu. - Phân cấp mạnh trong công tác đấu thầu. Thể hiện ở chương IV – Quyền và nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu. Tờ báo về đấu thầu chính thức khai trương và phát hành số đầu tiên.

Gần đây là Luật số 3/8/2009/QH-12 sửa dổi một số điều liên quan đến Luật đấu thầu. Bộ Kế hoạch - đầu tư cho ra mắt trang web về 6 Luan van đấu thầu http://dauthau.vn nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ đầu tư, nhà thầu và các cơ quan quản lý và hiện nay chuyển sang trang web có tên như sau: http://muasamcong.vn Việc triển khai thí điểm đấu thầu qua mạng nhằm tạo ra sự công khai, minh bạch, tăng cường tính cạnh tranh, góp phần tiết kiệm thời gian và chi phí trong quá trình đấu thầu. Đây cũng là biểu hiện của quyết tâm phòng chống tham nhũng của Chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện đấu thầu qua mạng cũng vấp phải một số khó khăn, đó là cơ sở hạ tầng thông tin của Việt Nam chưa hồn thiện, nhận thức về đấu thầu qua mạng chưa đầy đủ do đây là vấn đề hết sức mới mẻ và kiến thức về lĩnh vực này còn yếu.

Vì vậy, trong thời gian tới, công việc đào tạo, tập huấn triển khai Thông tư 17 sẽ được thực hiện tích cực và rộng rãi trên cả nước. Đặc điểm của hoạt động Đấu thầu Thứ nhất: Đấu thầu là một hoạt động thương mại. Trong đó bên dự thầu là các thương nhân có đủ điều kiện và mục tiêu mà bên dự thầu hướng tới là lợi nhuận, còn bên mời thầu là xác lập được hợp đồng mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ với các điều kiện tốt nhất cho họ. Thứ hai: Đấu thầu là 1 giai đoạn tiền hợp đồng.

Hoạt động đấu thầu luôn gắn với quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Trong nền kinh tế đấu thầu không diễn ra như một hoạt động độc lập, nó chỉ xuất hiện khi con người có nhu cầu mua sắm hàng hóa và sử dụng dịch vụ. Mục đích cuối cùng của đấu thầu là là giúp bên mời thầu tìm ra chủ thể có khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chất lượng và giá cả tốt nhất. Sau khi quá trình đấu thầu hoàn tất, người trúng thầu sẽ cùng với người tổ chức đấu thầu đàm phán, để kí hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay xây lắp công trình.

Thứ ba: Chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ. Theo Luật thương mại 2005, trong hoạt động đấu thầu có thể xuất hiện bên thứ ba như các công ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, chuyên gia giúp đỡ, đánh giá hồ sơ dự thầu. Tuy nhiên đây là hoạt động không qua trung gian, không có thương nhân 7 Luan van làm dịch vụ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân khác nhận thù lao. Trong khi đó, Luật đấu thầu 2013 đã quy định thêm về tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp bao gồm đại lí đấu thầu, đơn vị sự nghiệp được thành lập và chức năng thực hiện đấu thầu chuyên nghiệp.Việc thành lập và hoạt động của đại lí đấu thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

Quan hệ đấu thầu luôn được xác lập giữa 1 bên mời thầu và nhiều bên dự thầu. Nhưng vẫn có trường hợp ngoại lệ như trong trường hợp chỉ định đầu tư. Thứ tư: Hình thức pháp lí của quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu. Hồ sơ mời thầu là văn bản pháp lí do bên mời thầu lập, trong đó có đầy đủ những yêu cầu về kĩ thuật, tài chính và thương mại của hàng hóa cần mua sắm, dịch vụ cần sử dụng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Giải pháp tăng cường nghiệp vụ đấu thầu qua mạng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Đức Hà, dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Kiến Vọng, trình bày những giải pháp thiết thực nhằm nâng cao hiệu quả đấu thầu trực tuyến cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng công nghệ thông tin trong quy trình đấu thầu, giúp tiết kiệm thời gian, giảm chi phí và tăng tính minh bạch. Đặc biệt, những giải pháp này không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc tiếp cận các cơ hội đấu thầu mà còn góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ về quản lý xây dựng và đấu thầu hợp đồng cho công trình nông nghiệp tại Phú Thọ, nơi đề cập đến tổ chức đấu thầu và quản lý hợp đồng trong lĩnh vực xây dựng. Bên cạnh đó, Nâng cao chất lượng tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng tại công ty cổ phần tư vấn xây dựng và quy hoạch Nam Trung Bộ cũng là một tài liệu hữu ích, cung cấp cái nhìn sâu sắc về quản lý dự án và chất lượng trong đấu thầu. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Hoàn thiện công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng tại huyện Kim Bôi, tỉnh Hòa Bình, giúp bạn nắm bắt các phương pháp quản lý dự án hiệu quả trong bối cảnh đấu thầu. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực đấu thầu và quản lý dự án tại Việt Nam.