Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam - Chương 2: Thực trạng công tác Đấu thầu qua mạng của các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam giai đoạn 2016 – 2020 - Chương 3: Một số giải pháp nâng cao nghiệp vụ Đấu thầu qua mạng cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam 3 Luan van CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGHIỆP VỤ ĐẤU THẦU QUA MẠNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA 1. Khái niệm Đấu thầu Đấu thầu là một thuật ngữ chưa có một định nghĩa thống nhất trên Thế giới, mỗi ấn phẩm, tài liệu hay một số Hiệp định lại có định nghĩa khác nhau. Và không giống với Việt Nam, thế giới biết đến Đấu thầu với cái tên “Mua sắm công” hoặc “Mua sắm chính phủ”, đó cũng là thuật ngữ thông dụng được sử dụng ở các Hiệp định và các quy định quốc tế. Tuy nhiên về bản chất thì mua sắm công hay mua sắm chính phủ tương tự với Đấu thầu của Việt Nam.
Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13, khoản 12, điều 4 của Việt Nam quy định khái niệm về Đấu thầu, “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế”. Dù là Đấu thầu hay mua sắm công hay mua sắm chính phủ thì mấu chốt ở đây vẫn là quá trình chính phủ sử dụng đồng tiền công để mua sắm các loại hàng hóa, dịch vụ cho mục đích công. Sở dĩ Việt Nam có thuật ngữ Đấu thầu là do luật Đấu thầu ban đầu xuất phát từ Bộ Luật xây dựng, sau đó việc sử dụng đồng tiền công được hiểu rộng ra hơn (Đấu thầu không chỉ gói gọn trong lĩnh vực xây dựng) nên bộ Luật Đấu thầu 61/2005/QH1 và Nghị định 85/2009/NĐ-CP được ra đời với tư cách đại diện chính thức cho hoạt động Đấu thầu tại Việt Nam; và với sự nỗ lực toàn diện hoàn thiện công tác Đấu thầu, bộ Luật Đấu thầu số 43/2013/QH13 và Nghị định 63/2014/NĐ-CP xuất hiện với phiên bản cải tiến, đồng điệu với quy định quốc tế hơn rất nhiều. Quá trình hình thành và phát triển của Đấu thầu 4 Luan van Ngày 10/1/1989 Bộ xây dựng có thông tư số 3 BXD_VKT hướng dẫn về đấu thầu trong xây dựng 12/2/1990 quy chế đấu thầu trong xây dựng được ban hành kèm theo quyết định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng số 24/BXD_VKT.
Ngày 3/1994 Bộ Xây dựng đã ban hành “Quy chế đấu thầu xây lắp” thay thế cho “Quy chế đấu thầu trong xây dựng” trước đây. Theo đó tất cả các công trình xây dựng thuộc sở hữu nhà nước phải thực hiện theo phương thức đấu thầu. Phương thức chọn thầu và chỉ định thầu chỉ áp dụng cho các công trình thuộc bí mật quốc gia, nghiên cứu thử nghiệm, cần thực hiện cấp bách. Ngày 16/4/1994 quyết định 183-TTg thì quy định về đấu thầu mới bao quát mọi lĩnh vực mua sắm.
Đây có thể coi là quy chế đấu thầu đầu tiên của Việt Nam. Từ đó quy chế đấu thầu tiếp tục được bổ sung để phù hợp hơn với tình hình đất nước. Quy chế đấu thầu lần 2 đã được ban hành kèm theo nghị định 43/1996/NĐ-CP và 9/3/1997/NĐ-CP bổ sung và hoàn thiện một số vướng mắc trong quy chế lần 1. Theo đó các doanh nghiệp 30 vốn nhà nước lựa chọn đối tác thực hiện dự án sẽ bắt buộc phải theo quy chế đấu thầu.
Các hội đồng xét thầu trước đây được thay thế bằng các tổ chuyên gia và lấy ý kiến của cơ quan chức năng. Điều quan trọng là từ quy chế lần 2 này gói thầu đã trở thành một đối tượng quản lý của công tác đấu thầu. Quy chế đấu thầu lần 3 được ban hành kèm theo nghị định 8/8/1999/NĐ-CP ngày 1/9/1999 và nghị định 14/2000/NĐ-CP ngày 5/5/2000 giúp giải quyết một số vướng mắc trong thực tế, phù hợp hơn với đòi hỏi của thực tế. Theo đó các thuật ngữ khá phong phú và được định nghĩa một cách khá đầy đủ.
Trình tự đấu thầu được tăng cường hơn. Các quy định mang tính định lượng đã xuất hiện như quy định về các khoảng thời gian tối thiểu hoặc tối đa cho các công đoạn, cho mỗi quy trình thực hiện đấu thầu. Phương pháp đánh giá được quy định rõ ràng và mang tính thuyết phục. Luật đấu thầu được Quốc hội khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua có hiệu lực thi hành kể từ Luật đấu thầu gồm 6 chương với 77 điều.
Luật được kế thừa và phát triển từ Quy chế đấu thầu ban hành kèm theo các NĐ 88-CP, 14-CP và 66- CP và từ dự thảo lần 10 Pháp lệnh đấu thầu được Chính phủ thông qua. Ngày 5 Luan van 29/9/2006 Chính phủ ban hành Nghị định số 11/1/2006/NĐ-CP về Hướng dẫn thi hành Luật đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng. Mục tiêu hướng tới của Luật đấu thầu: - Quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan, đặc biệt là Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. - Nhằm tăng cường tính công khai, minh bạch trong từng hoạt động đấu thầu, tăng cường sự phân cấp trong thực hiện, đơn giản thủ tục để đẩy nhanh tiến độ ở mọi khâu cũng như tạo điều kiện cho giám sát của cộng đồng.
- Nhằm khắc phục các tồn tại hiện hữu lạm dụng các hình thức đấu thầu kém cạnh tranh như chỉ định thầu, đấu thầu hạn chế…, khắc phục tình trạng nhận thức sai về các nguồn tiền của Nhà nước, thiếu năng lực và kinh nghiệm trong thực hiện đấu thầu, cũng như tình trạng quy định chồng chéo về đấu thầu. Một số điểm mới của Luật đấu thầu so với Quy chế đấu thầu: - Chống các hoạt động khép kín trong đấu thầu dẫn đến hạn chế cạnh tranh. Tạo sự cạnh tranh trong đấu thầu có hiệu quả. - Chống mơ hồ, chống tham nhũng cao tạo sự công bằng hiệu quả.
Chất lượng đấu thầu tăng, tiết kiệm chi phí trong đấu thầu. Như vậy, đòi hỏi tổ chuyên gia đấu thầu phải am hiểu công tác đấu thầu, có đủ trình độ để thực hiện công tác đấu thầu: phải có chứng chỉ tham gia khóa học về đấu thầu. - Xử lý kiến nghị: Hình thành các tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp ra đời để phục vụ công tác đấu thầu cho các đơn vị có nhu cầu. Nhà thầu có quyền kiến nghị với bên mời thầu, chủ đầu tư, người có thẩm quyền và có quyền khởi kiện ra tòa.
- Xử lý vi phạm: Thể hiện tại điều 12- Các hành vi bị cấm trong đấu thầu. - Phân cấp mạnh trong công tác đấu thầu. Thể hiện ở chương IV – Quyền và nghĩa vụ của các bên trong đấu thầu. Tờ báo về đấu thầu chính thức khai trương và phát hành số đầu tiên.
Gần đây là Luật số 3/8/2009/QH-12 sửa dổi một số điều liên quan đến Luật đấu thầu. Bộ Kế hoạch - đầu tư cho ra mắt trang web về 6 Luan van đấu thầu http://dauthau.vn nhằm đáp ứng nhu cầu của chủ đầu tư, nhà thầu và các cơ quan quản lý và hiện nay chuyển sang trang web có tên như sau: http://muasamcong.vn Việc triển khai thí điểm đấu thầu qua mạng nhằm tạo ra sự công khai, minh bạch, tăng cường tính cạnh tranh, góp phần tiết kiệm thời gian và chi phí trong quá trình đấu thầu. Đây cũng là biểu hiện của quyết tâm phòng chống tham nhũng của Chính phủ Việt Nam. Tuy nhiên, việc thực hiện đấu thầu qua mạng cũng vấp phải một số khó khăn, đó là cơ sở hạ tầng thông tin của Việt Nam chưa hồn thiện, nhận thức về đấu thầu qua mạng chưa đầy đủ do đây là vấn đề hết sức mới mẻ và kiến thức về lĩnh vực này còn yếu.
Vì vậy, trong thời gian tới, công việc đào tạo, tập huấn triển khai Thông tư 17 sẽ được thực hiện tích cực và rộng rãi trên cả nước. Đặc điểm của hoạt động Đấu thầu Thứ nhất: Đấu thầu là một hoạt động thương mại. Trong đó bên dự thầu là các thương nhân có đủ điều kiện và mục tiêu mà bên dự thầu hướng tới là lợi nhuận, còn bên mời thầu là xác lập được hợp đồng mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ với các điều kiện tốt nhất cho họ. Thứ hai: Đấu thầu là 1 giai đoạn tiền hợp đồng.
Hoạt động đấu thầu luôn gắn với quan hệ mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ. Trong nền kinh tế đấu thầu không diễn ra như một hoạt động độc lập, nó chỉ xuất hiện khi con người có nhu cầu mua sắm hàng hóa và sử dụng dịch vụ. Mục đích cuối cùng của đấu thầu là là giúp bên mời thầu tìm ra chủ thể có khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ với chất lượng và giá cả tốt nhất. Sau khi quá trình đấu thầu hoàn tất, người trúng thầu sẽ cùng với người tổ chức đấu thầu đàm phán, để kí hợp đồng mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay xây lắp công trình.
Thứ ba: Chủ thể tham gia quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ. Theo Luật thương mại 2005, trong hoạt động đấu thầu có thể xuất hiện bên thứ ba như các công ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, chuyên gia giúp đỡ, đánh giá hồ sơ dự thầu. Tuy nhiên đây là hoạt động không qua trung gian, không có thương nhân 7 Luan van làm dịch vụ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cho thương nhân khác nhận thù lao. Trong khi đó, Luật đấu thầu 2013 đã quy định thêm về tổ chức đấu thầu chuyên nghiệp bao gồm đại lí đấu thầu, đơn vị sự nghiệp được thành lập và chức năng thực hiện đấu thầu chuyên nghiệp.Việc thành lập và hoạt động của đại lí đấu thầu thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
Quan hệ đấu thầu luôn được xác lập giữa 1 bên mời thầu và nhiều bên dự thầu. Nhưng vẫn có trường hợp ngoại lệ như trong trường hợp chỉ định đầu tư. Thứ tư: Hình thức pháp lí của quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu. Hồ sơ mời thầu là văn bản pháp lí do bên mời thầu lập, trong đó có đầy đủ những yêu cầu về kĩ thuật, tài chính và thương mại của hàng hóa cần mua sắm, dịch vụ cần sử dụng.