CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHẤT LƯỢNG THIẾT KẾ CÁC ĐỒ ÁN QUY HOẠCH XÂY DỰNG VÀ QUY HOẠCH CHI TIẾT ĐÔ THỊ 1.1 Các loại Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị 1.1 Quy hoạch xây dựng đô thị Quy hoạch xây dựng đô thị là sự tổ chức, sắp xếp không gian đô thị sao cho sử dụng hợp lý các nguồn lực (không gian, kết cấu hạ tầng, tài nguyên thiên nhiên), đảm bảo sự phát triển bền vững (về kinh tế, xã hội và môi trường) của đô thị. Quy hoạch xây dựng đô thị được lập thông qua các yêu cầu, quy định của Nhà nước đối với các hoạt động xây dựng và các hoạt động khác của chủ thể có liên quan đến việc sử dụng không gian, kết cấu hạ tầng đô thị và tài nguyên khác (đất đai, khoáng sản, biển đảo, du lịch, văn hóa, …) đã được xác định. Nó được thể hiện dưới dạng các bản vẽ, các quy chế và thường được xây dựng và ban hành để áp dụng trong một giai đoạn nhất định. Quy hoạch xây dựng có vai trò là tiền đề để có cơ sở quản lý đất đai, quản lý đầu tư xây dựng, quản lý khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật, quản lý trật tự xây dựng trong đô thị, phát triển nhà ở và thị trường bất động sản một cách lành mạnh.
Trong những năm qua, sự đổi thay trên khắp đất nước từ đô thị cho đến nông thôn có sự đóng góp không nhỏ của công tác kiến trúc, quy hoạch xây dựng. Với chủ trương quy hoạch phải đi trước một bước, công tác quy hoạch xây dựng đã được quan tâm và đẩy mạnh. Đến nay các vùng kinh tế trọng điểm trên cả nước đã cơ bản được phủ kín quy hoạch; 100% các đô thị có quy hoạch chung được duyệt; 68% số xã đã hoàn thành việc lập quy hoạch chi tiết xây dựng nông thôn mới. Cùng với việc lập các đồ án quy hoạch xây dựng các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị mới, vùng kinh tế trọng điểm đặc biệt là việc lập đồ án quy hoạch chung xây dựng thủ đô, các thành phố đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2050 công tác quản lý quy hoạch những năm vừa qua đã thực sự đóng góp quan trọng trong việc tạo tiền đề phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vùng và quốc gia, là cơ sở để kế hoạch hóa đầu tư, phân bổ nguồn lực, giúp địa phương có công cụ để xây dựng và quản lý phát triển đô thị và nông thôn.
Cùng với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, lĩnh vực phát triển đô thị đã có những bước phát triển vượt bậc, hệ thống đô thị Việt Nam đã và đang từng bước 4 phát triển theo hướng bền vững, mở rộng về quy mô, xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật – xã hội phù hợp, đồng bộ, hiện đại, diện mạo đô thị đã có nhiều thay đổi, chất lượng đô thị ngày càng được nâng cao. Hệ thống đô thị quốc gia với 765 đô thị hiện có đã và đang được mở rộng, phát triển nhanh cả về quy mô, số lượng và chất lượng. Các đô thị đã thực sự đóng vai trò trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, đáp ứng nhu cầu phát triển toàn diện và bền vững đất nước, tiếp tục khẳng định vai trò là động lực phát triển kinh tế, là hạt nhân thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước. Để từng bước lập lại trật tự trong quản lý phát triển đô thị, Bộ Xây dựng đang tiếp tục nghiên cứu, xây dựng Luật quản lý về phát triển đô thị.
Hàng loạt các dự án xây dựng các khu đô thị mới đã và đang được triển khai theo mô hình đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và các công trình kiến trúc mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, tạo ra hướng phát triển mới cho các đô thị. Nhiều khu đô thị kiểu mẫu đã được hình thành như khu đô thị Linh Đàm, Phú Mỹ Hưng, Khu dân cư Hạnh phúc. Hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được đầu tư tập trung hơn, được đầu tư bằng nhiều nguồn vốn, từng bước nâng cao chất lượng nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của đô thị. Chất lượng phục vụ của hệ thống hạ tầng kỹ thuật đô thị được cải thiện rõ rệt.
Lĩnh vực được chú ý ưu tiên là cấp nước sạch, thoát nước và vệ sinh môi trường, bước đầu đã huy động vốn đầu tư xây dựng và phát triển hạ tầng kỹ thuật đô thị từ nhiều nguồn ngoài ngân sách Nhà nước. Các chương trình, dự án trong lĩnh vực hạ tầng đô thị được triển khai thực hiện đã góp phần cải tạo, nâng cấp và chỉnh trang diện mạo đô thị, từng bước cải thiện chất lượng cuộc sống đô thị. Đến nay, tỷ lệ dân đô thị được cấp nước qua hệ thống cấp nước tập trung đạt khoảng 78%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn đạt khoảng 83,5% tại khu vực đô thị. Nhằm tạo ra bước đột phá trong giải quyết nhu cầu bức xúc về nhà ở cho nhân dân; tạo ra tầm nhìn dài hạn và nhiều nội dung định hướng cụ thể về phát triển nhà ở cho các nhóm đối tượng khác nhau trong xã hội; ngành Xây dựng đã trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến 5 năm 2030.
Có thể nói lần đầu tiên chúng ta có được Chiến lược quốc gia về nhà ở với nhiều quan điểm và cách tiếp cận mới được Chính phủ thống nhất cao qua lời khẳng định của Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng trong Hội nghị doanh nghiệp ngành xây dựng là: "Giải quyết vấn đề nhà ở là trách nhiệm của Nhà nước, của xã hội và của người dân" và "Các chỉ tiêu phát triển nhà ở, trong đó có chỉ tiêu phát triển nhà ở xã hội cho từng nhóm đối tượng phải được xác định cụ thể trong nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương hàng năm và từng giai đoạn để tổ chức triển khai; đồng thời là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền giám sát, đánh giá kết quả thực hiện", đây cũng là cơ sở để hiện thực hóa quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, với mục tiêu xây dựng xã hội vì con người. Để có thể triển khai các dự án quy hoạch thì công tác xây dựng quy hoạch là rất cần thiết và phải tiến hành theo các bước như sau [1]: Bước 1 Thu thập các yêu cầu qui hoạch về: thực trạng đối với quỹ đất của khu vực hoặc đô thị cần qui hoạch, điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và hiện trạng sử dụng đất, qua đó đánh giá được tiềm năng của đất đai. Phân tích các thông tin nhận được từ đó kết hợp với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội khu vực đô thị, phương hướng sử dụng đất trong thời hạn qui hoạch những thông tin về ưu tiên khi qui hoạch mà cơ quan nhà nước cung cấp đưa ra yêu cầu trước khi qui hoạch. Bước 2 Bằng kiến thức chuyên môn phân tích các thông số trên dựa vào các điều kiện này đề xuất các biện pháp sử dụng đất, bảo vệ cải tạo đất và bảo vệ môi trường sinh thái sao cho hợp lý nhất và hiệu quả nhất.
Đưa ra những yếu tố của bản dự án cho khu vực đô thị về: - Một phác thảo sơ đồ quy hoạch. - Một chương trình tổng quát cho việc thực thi phương án. - Một lịch trình tiến độ của các công đoạn chủ yếu. 6 - Một ước lượng tổng thể về văn hoá- xã hội, trong đó nói rõ đối với từng nhóm dân cư liên quan, những thuận lợi có thể được hưởng và những bất lợi có thể phải chịu.
- Một bản dự toán chính xác các phương tiện vật chất, tài chính và nhân lực sẽ cần phải huy động, bởi vì dự toán này có thể thay đổi tuỳ theo từng khu vực đô thị, tự mình thực hiện các công trình này hay thuê người khác. - Một bản kết toán ước lượng về tài chính giúp Chủ đầu tư chủ động; một mặt là xác định những điều kiện có thể được tiến hành, và mặt khác thấy rõ đâu là những hệ quả tương lai đối với nguồn thu, chi của các đơn vị hành chính địa phương và của các cơ quan công cộng liên quan trong việc vận hành khai thác hệ thống hạ tầng kỹ thuật và hệ thống hạ tầng xã hội trong một khu đô thị. Bước 3 Các phương án đưa ra thảo luận và đi đến lựa chọn. Ở đây các chuyên gia và cán bộ có hiểu biết về quy hoạch cùng tham gia lựa chọn từ những phương án đã đưa ra.
Đồ án quy hoạch chi tiết sử dụng đất được lập ở hai mức độ khác nhau: - Đối với khu đất có diện tích trên 200 ha, áp dụng bản đồ tỷ lệ 1/2000 đến 1/5000 nhằm cụ thể hoá và làm chính xác quy định của đồ án quy hoạch chung xây dựng đô thị về quản lý sử dụng đất đai. Việc cải tạo và xây dựng các công trình hạ tầng kỹ thuật, định hướng về kiến trúc và bảo vệ cảnh quan thiên nhiên cho mỗi khu đất có quy mô 4 – 20 ha. - Đối với khu đất từ 20 đến 200 ha, áp dụng bẩn đồ 1/1000 đến 1/2000 nhằm cụ thể hoá làm chính xác quy định của đồ án quy hoạch chung và đồ án chi tiết sử dụng đất có liên quan, đồng thời xác định rõ mục tiêu, chế độ quản lý sử đụng đất các yêu cầu về bố cục quy hoạch-kiến trúc, các cơ sở hạ tầng, các chỉ tiêu kinh tế-kỹ thuật, về sinh môi trường. cho từng khu đất dành để xây dựng các cụm công trình hoặc công trình.
Đối với quy hoạch chi tiết phân lô: được lập cho khu đất có diện tích dưới 20 ha trên bản đồ địa chính và bản đồ địa hình có tỷ lệ 1/200 đến 1/500, nhằm quy định chế độ quản lý sử dụng đất đai và các yêu cầu cải tạo hoặc xây dựng các công trình tại từng lô 7 đất. Bước 4 Khi đã có được phương án quy hoạch, cơ quan chức năng phải đưa đồ án ra lấy ý kiến của cộng đồng. Cộng đồng nhân dân tham gia góp ý kiến thêm vào đồ án quy hoạch để hoàn thiện đồ án, đi sát với thực tế hơn, thông qua cộng đồng việc thực thi quy hoạch sẽ được dễ dàng hơn. Bước 5 Thẩm định lại đồ án để khẳng định tính kinh tế-kỹ thuật-xã hội của đồ án.