CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG CỦA CÔNG TÁC THIẾT KẾ 1. Chất lương thiết kế và vai trò của thiết kế đối với chất lượng của công trình.1 Công trình xây dựng Khái niệm: (Theo mục10 điều 3 luật xây dựng, số 50/2014/QH11 ngày 18, tháng 6, năm 2014). Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế. Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình khác.
Đặc điểm: - CTXD có quy mô, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc, thời gian sản xuất xây lắp kéo dài. - CTXD cố định tại nơi sản xuất, phương tiện thi công, người lao động, … phải di chuyển đến địa điểm xây dựng.2 Chất lượng công trình xây dựng (Theo PGS. Trần Chủng(2009)- Trưởng ban chất lượng tổng hội xây dựng Việt Nam. Quản lý chất lượng dự án đầu tư xây dựng.
Chương trình bồi dưỡng nghiệp vụ Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng Công Trình). Chất lượng công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu 5 chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế. Chất lượng công trình xây dựng không chỉ đảm bảo sự an toàn về mặt kỹ thuật mà còn phải thỏa mãn các yêu cầu về an toàn sử dụng có chứa đựng yếu tố xã hội và kinh tế. Có được chất lượng công trình xây dựng như mong muốn, có nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong đó yếu tố cơ bản nhất là năng lực quản lý (của chính quyền, của chủ đầu tư) và năng lực của các nhà thầu tham gia các quá trình hình thành sản phẩm xây dựng.
Từ góc độ bản thân sản phẩm xây dựng và người thụ hưởng sản phẩm xây dựng, chất lượng công trình xây dựng được đánh giá bởi các đặc tính cơ bản như: công năng, độ tiện dụng; tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật; độ bền vững, tin cậy; tính thẩm mỹ; an toàn trong khai thác, sử dụng, tính kinh tế; và đảm bảo về tính thời gian (thời gian phục vụ của công trình). Rộng hơn, chất lượng công trình xây dựng còn có thể và cần được hiểu không chỉ từ góc độ của bản thân sản phẩm và người hưởng thụ sản phẩm xây dựng mà còn cả trong quá trình hình thành sản phẩm xây dựng đó. Một số vấn đề cơ bản trong đó là: - Chất lượng công trình xây dựng cần được quan tâm ngay từ khi hình thành ý tưởng về xây dựng công trình, từ khâu quy hoạch, lập dự án, chất lượng khảo sát, chất lượng thiết kế. - Chất lượng công trình tổng thể phải được hình thành từ chất lượng của nguyên vật liệu, cấu kiện, chất lượng của công việc xây dựng riêng lẻ, của các bộ phận, hạng mục công trình.
- Các tiêu chuẩn kỹ thuật không chỉ thể hiện ở các kết quả thí nghiệm, kiểm định nguyên vật liệu, cấu kiện, máy móc thiết bị mà còn ở quá trình hình thành và thực hiện các bước công nghệ thi công, chất lượng các công việc của 6 đội ngũ công nhân, kỹ sư lao động trong quá trình thực hiện các hoạt động xây dựng. - Vấn đề an toàn không chỉ là trong khâu khai thác, sử dụng đối với người thụ hưởng công trình mà còn là cả trong giai đoạn thi công xây dựng đối với đội ngũ công nhân, kỹ sư xây dựng. - Tính thời gian không chỉ thể hiện ở thời hạn công trình đã xây dựng có thể phục vụ mà còn ở thời hạn phải xây dựng và hoàn thành, đưa công trình vào khai thác, sử dụng. - Tính kinh tế không chỉ thể hiện ở số tiền quyết toán công trình chủ đầu tư phải chi trả mà còn thể hiện ở góc độ đảm bảo lợi nhuận cho các nhà thầu thực hiện các hoạt động và dịch vụ xây dựng như lập dự án, khảo sát, thiết kế, thi công xây dựng.
- Vấn đề môi trường: cần chú ý không chỉ từ góc độ tác động của dự án tới các yếu tố môi trường mà cả các tác động theo chiều ngược lại, tức là tác động của các yếu tố môi trường tới quá trình hình thành dự án.3 Chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng Chất lượng hồ sơ thiết kế công trình xây dựng là chất lýợng của hồ sõ ðýợc thiết kế theo ðúng quy chuẩn xây dựng, tuân thủ ðúng các quy ðịnh về kiến trúc, quy hoạch xây dựng hiện hành. Các býớc thiết kế sau phải phù hợp với các býớc thiết kế trýớc ðã được phê duyệt. Sự phù hợp của việc lựa chọn dây truyền và thiết bị công nghệ (nếu có). Đảm bảo sự phù hợp giữa khối lượng thiết kế và khối lượng dự toán.
Tính đúng đắn của việc áp dụng các định mức kinh tế- kỹ thuật, định mức chi phí, đơn giá. Việc vận dụng định mức, đơn giá, các chế độ chính sách có liên quan và các khoản mục chi phí trong dự toán theo quy định. 7 Thực tiễn và nhiều nghiên cứu và đã chỉ ra những thay đổi thiết kế trong quá trình xây dựng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến chậm tiến độ và làm tăng thêm chi phí công trình xây dựng. Do đó, cải thiện chất lượng thiết kế sẽ góp phần giảm thiểu những rủi ro này, nâng cao hiệu quả công trình.
Mỗi thay đổi thiết kế thường kéo theo làm tăng thêm chi phí xây dựng. Một nghiên cứu do nhóm chuyên gia của Ngân hàng Thế giới thực hiện cho thấy, mỗi yêu cầu thay đổi bổ sung sẽ làm chi phí cho 1 km đường bộ tăng khoảng 5. Trong khi đó, yêu cầu thay đổi được thực hiện thường xuyên ở nhiều dự án, trung bình 3 yêu cầu thay đổi trên một hợp đồng, đặc biệt có 1 hợp đồng có đến 25 yêu cầu thay đổi. Việc phải thay đổi thiết kế có thể do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan.
Báo cáo ngành xây dựng tháng 5/2015 của Công ty CP Chứng khoán FPT nhận định, từ năm 2000, số lượng các công ty tư vấn đã tăng lên rất nhanh, tuy nhiên số lượng lại không đồng hành với chất lượng. Lỗi trong quá trình thiết kế thường có nguyên nhân chính là do kỹ sư thiết kế thiếu năng lực. Ngoài ra, sự bất cẩn trong quá trình kiểm tra và thẩm định cũng góp phần lớn dẫn đến sự chậm trễ và tăng chi phí trong các công trình, đặc biệt là các công trình có vốn đầu tư nhà nước. Thực tiễn tại nhiều dự án có thể tổng hợp những nguyên nhân thường thấy ở các công trình phải điều chỉnh thiết kế là vị trí xây dựng tại nơi có điều kiện địa chất phức tạp; tư vấn thiết kế thiếu kinh nghiệm, sai sót trong thiết kế; tư vấn thiết kế ước lượng tổng mức đầu tư sai sót; chủ đầu tư cung cấp thông tin trong giai đoạn thiết kế không đầy đủ; chủ đầu tư yêu cầu thay đổi, làm thêm hoặc thay đổi kế hoạch dự án; nhà thầu móc nối với các bên tham gia để làm phát sinh chi phí cho dự án… Về phía chủ đầu tư, một số ý kiến cho rằng, chủ đầu tư cần bồi dưỡng, nâng cao năng lực của các cán bộ giám sát, quản lý dự án nhằm tránh được những 8 sai sót như quản lý dự án chậm trễ, thay đổi kế hoạch thường xuyên, không phát hiện được sự móc nối của nhà thầu với các bên làm thất thoát chi phí dự án.
Chủ đầu tư cũng cần chú ý phối hợp chặt chẽ với tư vấn thiết kế trong thời gian đầu hình thành dự án để tránh trường hợp truyền đạt sai, thiếu thông tin dẫn đến thiết kế bị sai sót. Đặc biệt, khâu lựa chọn nhà thầu tư vấn là tiền đề quan trọng nhất để đảm bảo chất lượng thiết kế về sau.2 Tình hình quản lý chất lượng thiết kế của nước ta hiện nay và một số sự cố liên quan công tác thiết kế, nguyên nhân, bài học. Các văn bản pháp lý liên quan đến quản lý chất lượng thiết kế. Trước kia Theo quy định của Luật Xây dựng số 16/2003/QH11 và các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn Luật Xây dựng (sau đây viết tắt là VBQPPL) thì công tác kiểm soát thiết kế của cơ quan quản lý Nhà nước về xây dựng hết sức mờ nhạt, không kiểm soát được chặt chẽ.
Tại giai đoạn chuẩn bị đầu tư, thiết kế cơ sở là thành phần của dự án đầu tư xây dựng chỉ cần có sự tham gia ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước (Khoản 6 Điều 10 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP ngày 12/02/2009 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng). Các bước thiết kế tiếp theo thiết kế cơ sở theo (thiết kế kỹ thuật, thiết kế bản vẽ thi công) đều do chủ đầu tư tổ chức thẩm định, phê duyệt (Khoản 7 Điều 1 Luật sửa đổi 38/2009/QH12). Trong khi đó chủ đầu tư theo luật định là “người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình”. Do không có đủ điều kiện để tổ chức thẩm định thiết kế nên chủ đầu tư đã phó thác cho tư vấn thẩm tra thiết kế.
Trong số các tổ chức tư vấn thẩm tra thiết kế không có ít tổ chức không có đủ điều kiện năng lực theo quy định tại Điều 50 Nghị định số 12/2009/NĐ-CP nên chất lượng thẩm tra thiết kế không cao, thậm chí mang nặng tính hình thức. 9 Qua thống kê sự cố các công trình được đầu tư bằng mọi nguồn vốn có thể thấy rằng nguyên nhân về thiết kế chiếm hầu hết các các trường hợp công trình bị hư hỏng hoặc bị sập đổ. Riêng đối với các công trình xây dựng bằng vốn ngân sách cũng chưa được kiểm soát chặt chẽ bằng các quy phạm pháp luật từ khâu khảo sát, thiết kế, lập dự toán, do vậy đã gây nên những sai sót, lãng phí và thất thoát lớn trong chi phí đầu tư xây dựng. Vì những lý do trên mà hiện nay nhà nước đã ban hành luật xây dựng số 50/2013/QH13 và Nghị định số 46/2015/NĐ-CP ngày 12/05/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng công trình xây dựng đã quy định việc thẩm tra thiết kế của cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng đối với các công trình được quy định tại Khoản 1 Điều 21 của Nghị định này.