CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Thực trạng về tình hình quản lý dự án 1. Tình hình quản lý dự án ở nước ta Chất lượng quản lý dự án công trình xây dựng là những yêu cầu về an toàn, bền vững, kỹ thuật và mỹ thuật của công trình nhưng phải phù hợp với quy chuẩn và tiêu chuẩn xây dựng, các quy định trong văn bản quy phạm pháp luật có liên quan và hợp đồng kinh tế.
Chất lượng quản lý dự án công trình xây dựng không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia. Trong khoảng hai thập niên trở lại đây, cùng với xu hướng hội nhập khu vực hoá, toàn cầu hoá trong mọi lĩnh vực kinh tế và cả lĩnh vực đầu tư xây dựng, công tác quản lý đầu tư xây dựng ngày càng trở nên phức tạp đòi hỏi phải có sự phối hợp của nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều đối tác và nhiều bộ môn liên quan. Do đó, công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng đòi hỏi phải có sự phát triển sâu rộng và mang tính chuyên nghiệp hơn mới có thể đáp ứng nhu cầu xây dựng các công trình dân dụng ở nước ta trong thời gian tới. Thực tiễn đó đã thúc đẩy ra đời một “nghề” mới mang tính chuyên nghiệp thực sự: Quản lý dự án, một nghề đòi hỏi tính tổng hợp và chuyên nghiệp từ các tổ chức và cá nhân tham gia hoạt động tư vấn.
Hiện nay, công tác QLDA đang ngày càng được chú trọng và mang tính chuyên nghiệp hơn, nó tỷ lệ thuận với quy mô, chất lượng công trình và năng lực cũng như tham vọng của chính Chủ đầu tư. Kinh nghiệm cho thấy công trình có yêu cầu cao về chất lượng, hoặc công trình được thiết kế xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế, liên kết với các đơn vị tư vấn quốc tế,… đòi hỏi một ban quản lý dự án có năng lực thực sự, làm việc với cường độ cao, chuyên nghiệp và hiệu quả. Đây là lĩnh vực mới mẻ và nhiều tiềm năng ở Việt Nam. Chúng ta đã tự điều hành, quản lý nhiều dự án trọng điểm Quốc gia và vượt tiến độ như : nhà máy thủy điện Sơn La; Đập Cửa Đạt (Thanh Hóa) là đập đá đổ bê tông bản mặt lớn nhất Việt Nam… 5 Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những công trình quan trọng bị xuống cấp nghiêm trọng ngay khi mới đưa vào sử dụng.
Ngoài việc gây thất thoát chi phí cho việc cải tạo, sửa chữa, nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của người sử dụng. Có thể kể đến một số công trình tiêu biểu trong thời gian gần đây, vì buông lỏng công tác quản lý từ chủ đầu tư đến nhà thầu thi công mà dẫn đến chất lượng công trình xuống cấp nhanh chóng, hậu quả thiệt hại vô cùng to lớn như : - Công trình đường ống dẫn nước sông Đà, dẫn nước từ sông Đà về Hà Nội để phục vụ sinh hoạt cho người dân cũng như cho sản xuất. Tính đến ngày 10/10/2016, công tình này đã bị vỡ đến 19 lần và lần gần nhất là vào ngày 11/7/2016 ; gây ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống sinh hoạt của người dân. Ngoài ra, còn ảnh hưởng đến an toàn đường bộ nơi bị vỡ đường ống ; - Kế đến có thể nói là công trình đường sắt trên cao tuyến Cát Linh-Hà Đông.
Do công tác quản lý dự án kém làm đội vốn của Chủ đầu tư cũng như công tác khác làm ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thi công. Nhà thầu thi công quản lý không toàn diện, an toàn lao động bị buông lỏng nên liên tiếp xảy ra các vụ tai nạn trên công trường, làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công và an toàn của người dân quanh khu vực công trường. Tình hình quản lý dự án ở một số nước trên thế giới Như phần trên đã nói chất lượng quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình không những liên quan trực tiếp đến an toàn sinh mạng, an ninh công cộng, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình mà còn là yếu tố quan trọng bảo đảm sự phát triển của mỗi quốc gia. Do vậy, quản lý chất lượng dự án công trình xây dựng là vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm.
Cộng hòa Pháp Nước Pháp đã hình thành một hệ thống pháp luật tương đối nghiêm ngặt và hoàn chỉnh về quản lý giám sát và kiểm tra chất lượng dự án công trình xây dựng. Ngày nay, nước Pháp có hàng chục công ty kiểm tra chất lượng công trình rất mạnh, đứng độc lập ngoài các tổ chức thi công xây dựng. Pháp luật của Cộng hòa Pháp quy định các công trình có trên 300 người hoạt động, độ cao hơn 28 m, nhịp rộng hơn 40 m, kết cấu cổng sân vườn ra trên 200 m và độ sâu của móng trên 30 m đều phải tiếp nhận việc kiểm tra 6 giám sát chất lượng có tính bắt buộc và phải thuê một công ty kiểm tra chất lượng được Chính phủ công nhận để đảm đương phụ trách và kiểm tra chất lượng công trình. Ngoài ra, tư tưởng quản lý chất lượng của nước Pháp là “ngăn ngừa là chính”.
Do đó, để quản lý chất lượng các dự án đầu tư công trình xây dựng, Pháp yêu cầu bảo hiểm bắt buộc đối với các công trình này. Các hãng bảo hiểm sẽ từ chối bảo hiểm khi công trình xây dựng không có đánh giá về chất lượng của các công ty kiểm tra được công nhận. Họ đưa ra các công việc và các giai đoạn bắt buộc phải kiểm tra để ngăn ngừa các nguy cơ có thể xảy ra chất lượng kém. Kinh phí chi cho kiểm tra chất lượng là 2% tổng giá thành.
Tất cả các chủ thể tham gia xây dựng công trình bao gồm chủ đầu tư, thiết kế, thi công, kiểm tra chất lượng, sản xuất bán thành phẩm, tư vấn giám sát đều phải mua bảo hiểm nếu không mua sẽ bị cưỡng chế. Chế độ bảo hiểm bắt buộc đã buộc các bên tham gia phải nghiêm túc thực hiện quản lý, giám sát chất lượng vì lợi ích của chính mình, lợi ích hợp pháp của Nhà nước và của khách hàng. Hoa Kỳ Quản lý chất lượng công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Mỹ rất đơn giản vì Mỹ dùng mô hình 3 bên để quản lý chất lượng công trình xây dựng. Bên thứ nhất là các nhà thầu (thiết kế, thi công…) tự chứng nhận chất lượng sản phẩm của mình.
Bên thứ hai là khách hàng giám sát và chấp nhận về chất lượng sản phẩm có phù hợp với tiêu chuẩn các yêu cầu đặt hàng hay không. Bên thứ ba là một tổ chức tiến hành đánh giá độc lập nhằm định lượng các tiêu chuẩn về chất lượng phục vụ cho việc bảo hiểm hoặc giải quyết tranh chấp. Giám sát viên phải đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, có bằng cấp chuyên ngành; chứng chỉ do Chính phủ cấp; kinh nghiệm làm việc thực tế 03 năm trở lên; phải trong sạch về mặt đạo đức và không đồng thời là công chức Chính phủ. Singapore Chính quyền Singapore quản lý rất chặt chẽ việc thực hiện các dự án đầu tư xây dựng.
Ngay từ giai đoạn lập dự án, chủ đầu tư phải thỏa mãn các yêu cầu về quy hoạch xây dựng, an toàn, phòng, chống cháy nổ, giao thông, môi trường thì mới được cơ quan quản lý về xây dựng phê duyệt. Ở Singapore không có đơn vị giám sát xây dựng hành nghề chuyên nghiệp. Giám sát xây dựng công trình là do một kiến trúc sư, kỹ sư 7 chuyên ngành thực hiện. Họ nhận sự ủy quyền của Chủ đầu tư, thực hiện việc quản lý giám sát trong suốt quá trình thi công xây dựng công trình.
Theo quy định của Chính phủ thì đối với cả 02 trường hợp Nhà nước đầu tư hoặc cá nhân đầu tư đều bắt buộc phải thực hiện việc giám sát. Do vậy, các chủ đầu tư phải mời kỹ sư tư vấn giám sát để giám sát công trình xây dựng. Đặc biệt, Singapore yêu cầu rất nghiêm khắc về tư cách của kỹ sư giám sát. Họ nhất thiết phải là các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên ngành đã đăng ký hành nghề ở các cơ quan có thẩm quyền do Nhà nước xác định.
Chính phủ không cho phép các kiến trúc sư và kỹ sư chuyên nghiệp được đăng báo quảng cáo có tính thương mại, cũng không cho phép dùng bất cứ một phương thức mua chuộc nào để môi giới mời chào giao việc. Do đó, kỹ sư tư vấn giám sát thực tế chỉ nhờ vào danh dự uy tín và kinh nghiệm của các cá nhân để được các chủ đầu tư giao việc. Tình hình đầu tư theo các nguồn vốn Huy động các nguồn vốn trong toàn xã hội là một nhân tố quan trọng thúc đẩy đầu tư và đảm bảo hiệu quả đầu tư. Các nguồn vốn đầu tư toàn xã hội bao gồm: - Vốn đầu tư nhà nước; Vốn đầu tư trong nước khác và vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam Vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng nhanh qua các năm, mức tăng bình quân trong giai đoạn 2011-2015 tính theo giá cố định là 13,54%/năm.
Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP những năm qua rất cao. Năm 2015 vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tính theo giá thực tế đạt 830,3 nghìn tỷ đồng, tăng 17,1% so với năm 2014 và bằng 41,9% GDP. Theo số liệu thống kê cho thấy, vốn đầu tư trong nước chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, trong đó vốn nhà nước chiếm tỷ lệ đáng kể. Quy mô đầu tư trong các năm 2011-2015 được mô tả cụ thể trên hình 1.1 cho thấy hằng năm vốn đầu tư phát triển toàn xã hội liên tục tăng, cơ cấu các nguồn vốn đầu tư có sự thay đổi, trong đó nguồn vốn của khu vực có nguồn vốn đầu tư nước ngoài ngày càng tăng cao trong tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội và ngược lại, nguồn vốn từ Ngân sách nhà nước (NSNN) có xu hướng giảm.
8 Vốn đầu tư nhà nước, gồm: - Vốn Ngân sách nhà nước; Vốn tín dụng do Nhà nước bảo lãnh; Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước;Vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; Vốn khác do Nhà nước quản lý.