Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam sở hữu quy mô dân số trên 90,5 triệu người với lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đạt khoảng 51,4 triệu người, chiếm hơn 58,5% dân số cả nước. Trung bình mỗi năm có thêm hơn 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, tạo ra áp lực rất lớn về việc làm, đặc biệt tại khu vực nông thôn nơi tập trung 70,3% tổng nguồn nhân lực. Tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, dân số toàn huyện đạt khoảng 235.000 người với trên 139.000 người trong độ tuổi lao động (chiếm 59,2% dân số). Mỗi năm địa phương có thêm khoảng 10.000 người bổ sung vào lực lượng lao động, bao gồm học sinh tốt nghiệp các trường trung học phổ thông, lao động nông nhàn và lao động hoàn thành hợp đồng về nước.

Mặc dù hoạt động xuất khẩu lao động đã mang lại nguồn kiều hối ước tính 15 triệu USD/năm (tương đương khoảng 335 tỷ đồng) với hơn 2.000 lao động đang làm việc tại hơn 46 quốc gia và vùng lãnh thổ, nhưng bình quân mỗi năm huyện chỉ đưa đi được khoảng 430 lao động. Con số này chưa tương xứng với tiềm năng của địa phương do chất lượng lao động còn thấp, hạn chế về thể lực, trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và tác phong công nghiệp.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung đánh giá toàn diện thực trạng, xác định các nhân tố ảnh hưởng và đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu của huyện Đông Hưng. Phạm vi không gian được thực hiện tại huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2014 - 2016 và dữ liệu điều tra thực địa năm 2016. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp các cấp quản lý tối ưu hóa hiệu quả giải quyết việc làm, gia tăng thu nhập cho hộ gia đình và nâng cao năng lực cạnh tranh của lao động địa phương trên thị trường quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết vốn nhân lực, lý thuyết phân công lao động quốc tế và lý thuyết di cư lao động quốc tế. Theo các công trình nghiên cứu kinh tế học, nguồn nhân lực được xem xét trên hai phương diện cơ bản là số lượng và chất lượng. Chất lượng nguồn lao động là trạng thái tổng hợp thể hiện qua ba yếu tố cấu thành then chốt: thể lực, trí lực và ý thức xã hội.

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ các khái niệm về thị trường lao động ngoài nước, hàng hóa sức lao động, phân loại công việc theo nhóm 3D (Dirty - Bẩn thỉu, Difficult - Khó khăn, Dangerous - Nguy hiểm) hay nhóm 3K theo tiêu chuẩn Nhật Bản (Kiken, Kitanai, Kitsui). Chất lượng lao động xuất khẩu được chia thành hai nhóm chính: lao động phổ thông chưa qua đào tạo và lao động kỹ thuật có chứng chỉ chuyên môn. Hoạt động này chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và Nghị định số 126/2007/NĐ-CP của Chính phủ về quy định các ngành nghề, công việc cấm phái cử.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài kết hợp chặt chẽ giữa dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2014 - 2016 từ Chi cục Thống kê huyện Đông Hưng, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Đông Hưng, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp từ khảo sát thực tế trong thời gian từ tháng 5/2016 đến tháng 5/2017.

Cỡ mẫu khảo sát được xác định ở quy mô 120 phiếu điều tra người lao động xuất khẩu (bao gồm lao động đang chuẩn bị xuất cảnh, đang làm việc tại nước ngoài và đã về nước), kết hợp phỏng vấn sâu 15 cán bộ quản lý cấp huyện, xã và 5 doanh nghiệp phái cử có uy tín. Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng được áp dụng dựa trên cơ cấu độ tuổi, giới tính và phân bố địa bàn tại các cụm xã có phong trào xuất khẩu lao động phát triển.

Phương pháp phân tích số liệu bao gồm thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ lệ phần trăm và phương pháp phân tích nhân tố tổng hợp. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác bức tranh phân bố mẫu, định lượng mức độ tác động của các yếu tố thể trạng, học vấn, chi phí đào tạo và cơ chế chính sách đến thu nhập thực tế của người lao động, từ đó tạo tiền đề khoa học vững chắc cho việc thiết kế các giải pháp can thiệp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Lực lượng lao động trong độ tuổi của huyện Đông Hưng dồi dào với 139.000 người, chiếm 59,2% tổng dân số. Tuy nhiên, giai đoạn 2014 - 2016, bình quân huyện chỉ xuất khẩu được khoảng 430 lao động/năm, chiếm tỷ lệ rất nhỏ (khoảng 0,31% tổng lực lượng lao động địa phương). Khi so sánh với huyện Vũ Thư có cùng điều kiện tự nhiên và dân số, kết quả của Đông Hưng thấp hơn rõ rệt (huyện Vũ Thư đạt từ 750 đến 850 lao động xuất khẩu/năm, cao gần gấp đôi).

Về chất lượng chuyên môn và học vấn, khảo sát cho thấy trên 70% lao động xuất khẩu xuất thân từ nông thôn, trong đó tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo nghề bài bản chiếm khoảng 65%. Trình độ ngoại ngữ và kỹ năng mềm còn rất yếu khi chỉ có dưới 35% lao động đạt yêu cầu giao tiếp cơ bản trước khi phái cử.

Về thể lực và nhân trắc học, chiều cao trung bình của nam lao động địa phương chỉ đạt 163,7 cm (thấp hơn 13 cm so với chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới - WHO), nữ lao động đạt 153 cm (thấp hơn 10,7 cm so với chuẩn WHO). Tầm vóc hạn chế này gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất thao tác và khả năng vận hành máy móc hiện đại tại các thị trường phát triển. Dù vậy, hiệu quả kinh tế mang lại rất rõ rệt khi nguồn kiều hối chuyển về đạt khoảng 15 triệu USD/năm (tương đương 335 tỷ đồng), tạo nguồn lực lớn cho phát triển kinh tế hộ gia đình.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu được hệ thống hóa qua bảng so sánh đối chiếu cơ cấu tay nghề và biểu đồ cột thể hiện tương quan số lượng lao động xuất khẩu giữa Đông Hưng và các địa phương lân cận. Số liệu phản ánh sự phân hóa mạnh mẽ: nhóm lao động có trình độ kỹ thuật đạt mức thu nhập cao hơn từ 1,8 đến 2,5 lần so với nhóm lao động phổ thông, tuy nhiên nhóm này chỉ chiếm chưa đầy 20% tổng số lao động xuất cảnh.

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng trên xuất phát từ sự thiếu đồng bộ trong công tác tuyển chọn, mạng lưới đào tạo nghề tại chỗ chưa gắn liền với tiêu chuẩn của các nước tiếp nhận, và nhận thức của người lao động còn mang nặng tính tự phát. Phần lớn người lao động chỉ đặt mục tiêu kiếm tiền ngắn hạn thay vì đầu tư nâng cao kỹ năng nghề nghiệp dài hạn.

So sánh với các nghiên cứu tương tự tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng như nghiên cứu tại Phú Thọ hay Hà Nội, thực trạng tại Đông Hưng phản ánh đặc trưng điển hình của lao động nông thôn: cần cù, chịu khó nhưng thiếu tác phong công nghiệp, kỷ luật lao động chưa nghiêm và tỷ lệ vi phạm hợp đồng vẫn còn xảy ra. Do đó, việc chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu từ lao động giản đơn sang lao động chất lượng cao là yêu cầu sống còn để thâm nhập các thị trường có thu nhập cao như Nhật Bản, Hàn Quốc hoặc các nước phát triển.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy trình tuyển chọn và đổi mới chương trình đào tạo nghề, ngoại ngữ. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ lệ lao động xuất khẩu qua đào tạo bài bản lên tối thiểu 85% trong giai đoạn 2020 - 2025; kéo dài thời lượng bồi dưỡng giáo dục định hướng từ 3 tháng lên 6 tháng nhằm trang bị toàn diện về ngoại ngữ, kỹ năng nghề và văn hóa nước sở tại. Chủ thể thực hiện là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện chủ trì, phối hợp với các trung tâm dạy nghề và doanh nghiệp phái cử.

Thứ hai, hoàn thiện cơ chế chính sách tài chính và hỗ trợ vốn vay ưu đãi. Triển khai gói tín dụng ưu đãi thông qua Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện với hạn mức vay tối đa 100 triệu đồng/lao động, đơn giản hóa thủ tục thế chấp cho các hộ nghèo và hộ cận nghèo, phấn đấu đạt tỷ lệ trên 90% lao động có nhu cầu được tiếp cận nguồn vốn trong chu kỳ 2018 - 2022. Chủ thể thực hiện là Ủy ban nhân dân huyện Đông Hưng phối hợp cùng Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội.

Thứ ba, chủ động đa dạng hóa thị trường xuất khẩu lao động sang các quốc gia có tiêu chuẩn và thu nhập cao. Nâng tỷ trọng lao động kỹ thuật làm việc tại Nhật Bản, Hàn Quốc và Đức từ mức 20% lên 45% vào năm 2025, giảm dần tỷ trọng lao động phổ thông tại các thị trường thu nhập thấp. Chủ thể thực hiện là Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình và các hiệp hội doanh nghiệp xuất khẩu lao động.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác tuyên truyền và nâng cao nhận thức về kỹ năng nghề. Tổ chức tối thiểu 45 buổi truyền thông, tư vấn trực tiếp mỗi năm tại 100% các xã, thị trấn, giúp người dân nhận thức rõ lợi ích của việc đào tạo chất lượng cao và phòng tránh các hành vi lừa đảo xuất khẩu lao động. Chủ thể thực hiện là Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân và Ủy ban nhân dân các xã.

Thứ năm, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn liền với chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất y tế tuyến xã, triển khai chương trình rèn luyện thể lực và dinh dưỡng định kỳ cho thanh niên trong lộ trình 5 - 10 năm nhằm cải thiện chỉ số thể trạng trước khi tham gia tuyển dụng. Chủ thể thực hiện là Trung tâm Y tế huyện Đông Hưng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương, bao gồm Ủy ban nhân dân huyện Đông Hưng và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Thái Bình. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn để xây dựng Đề án phát triển xuất khẩu lao động giai đoạn 2020 - 2025, phấn đấu nâng quy mô phái cử lên trên 600 lao động/năm.

Các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ xuất khẩu lao động có thể sử dụng dữ liệu nhân trắc học và đặc điểm tâm lý của lao động nông thôn Đông Hưng để thiết kế quy trình sàng lọc, hoàn thiện giáo trình đào tạo định hướng và kiểm soát tỷ lệ lao động vi phạm kỷ luật xuống dưới 2%.

Các trường cao đẳng nghề, trung tâm giáo dục nghề nghiệp - giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Thái Bình có thể ứng dụng các phát hiện nghiên cứu để điều chỉnh khung chương trình đào tạo nghề gắn với chuẩn kỹ năng quốc tế và ngoại ngữ chuyên ngành.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế phát triển xem đây là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp luận, hệ thống chỉ tiêu phân tích chất lượng nguồn nhân lực cấp huyện và mô hình kinh tế kiều hối nông thôn với quy mô phân tích 335 tỷ đồng/năm.

Câu hỏi thường gặp

Chất lượng lao động xuất khẩu của huyện Đông Hưng hiện nay đang gặp những rào cản lớn nhất nào?
Rào cản lớn nhất nằm ở trình độ tay nghề và ngoại ngữ khi có khoảng 65% lao động xuất khẩu chưa qua đào tạo bài bản. Bên cạnh đó, thể lực lao động còn hạn chế với chiều cao trung bình nam 163,7 cm và nữ 153 cm, thấp hơn chuẩn quốc tế từ 10 đến 13 cm, gây khó khăn khi vận hành máy móc công nghiệp.

Hoạt động xuất khẩu lao động đóng góp giá trị kinh tế như thế nào cho huyện Đông Hưng?
Mỗi năm huyện Đông Hưng phái cử khoảng 430 lao động ra nước ngoài, duy trì tổng số trên 2.000 lao động làm việc tại các thị trường quốc tế. Nguồn kiều hối chuyển về ước đạt 15 triệu USD/năm (tương đương 335 tỷ đồng), đóng góp trực tiếp vào giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.

Tại sao kết quả xuất khẩu lao động của Đông Hưng lại thấp hơn huyện lân cận như Vũ Thư?
Huyện Vũ Thư đạt quy mô 750 - 850 lao động/năm nhờ thành lập Ban chỉ đạo chuyên trách do lãnh đạo huyện trực tiếp điều hành và có chính sách hỗ trợ vốn vay đồng bộ. Trong khi đó, Đông Hưng còn thiếu cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền, doanh nghiệp và các tổ chức đoàn thể cơ sở.

Những thị trường xuất khẩu lao động trọng điểm nào mang lại giá trị gia tăng cao nhất cho người lao động?
Các thị trường phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan mang lại mức thu nhập bình quân từ 20 đến 35 triệu đồng/tháng cho lao động kỹ thuật, cao gấp 2 đến 3 lần thị trường Trung Đông. Tuy nhiên, các thị trường này đòi hỏi thời gian đào tạo từ 4 đến 6 tháng rất nghiêm ngặt.

Giải pháp đột phá nào cần được ưu tiên triển khai ngay trong giai đoạn tới?
Giải pháp đột phá là chuẩn hóa mạng lưới đào tạo nghề gắn với ngoại ngữ và kỷ luật lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên 85% vào năm 2025. Đồng thời, cần nâng hạn mức vay vốn ưu đãi lên 100 triệu đồng/người qua Ngân hàng Chính sách Xã hội để tháo gỡ rào cản tài chính ban đầu.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng chất lượng nguồn nhân lực huyện Đông Hưng với quy mô 139.000 người trong độ tuổi lao động.
  • Chỉ rõ các điểm nghẽn chính về thể lực (nam 163,7 cm, nữ 153 cm), tay nghề (65% chưa qua đào tạo) và năng lực ngoại ngữ của lao động xuất khẩu.
  • Khẳng định vai trò to lớn của dòng kiều hối 15 triệu USD/năm (335 tỷ đồng) đối với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông thôn địa phương.
  • Đề xuất 5 nhóm giải pháp đồng bộ về tuyển chọn, đào tạo nghề, cơ chế chính sách, phát triển thị trường và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
  • Xác định mục tiêu cụ thể đến năm 2025 nhằm nâng tỷ lệ lao động kỹ thuật xuất khẩu lên 45% và quy mô phái cử đạt trên 600 người/năm.

Trong giai đoạn 2018 - 2025, chính quyền địa phương cần khẩn trương kiện toàn Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động cấp huyện và ban hành Đề án nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tình hình mới. Các cơ quan quản lý, doanh nghiệp phái cử và người lao động cần chủ động phối hợp chặt chẽ, coi việc nâng cao trình độ tay nghề và tác phong công nghiệp là chìa khóa then chốt để khẳng định vị thế của lao động Việt Nam trên trường quốc tế.