Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LAO ĐỘNG XUẤT KHẨU 1. Các khái niệm về nguồn lao động và lao động xuất khẩu - Khái niệm về nguồn lao động: Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động (trên độ tuổi lao động) đang làm việc trong các ngành kinh tế. Nguồn lao động luôn được xem xét trên hai mặt biểu hiện đó là số lượng và chất lượng. Nguồn lao động xét về mặt số lượng: giới hạn độ tuổi lao động được qui định tùy thuộc vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng nước và trong từng thời kỳ.
Tại Điều 6 và Điều 145 của Bộ Luật lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam qui định độ tuổi lao động của nam từ 15 – 60 và nữ là 15 –55 tuổi. Như vậy, nguồn lao động bao gồm dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). Đối với nguồn lao động thì số lượng phụ thuộc vào một số yếu tố có tính chất xã hội như: quy mô dân số, cơ cấu tuổi, giới tính và sự phân bố theo khu vực và vùng lãnh thổ, trình độ phát triển của giáo dục - đào tạo. Nếu các cá nhân có nhiều điều kiện để học tập họ sẽ ở lại học tập lâu hơn và trì hoãn thời gian tham gia vào thị trường lao động.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, sự di dân và nhập cư cũng là nhân tố ảnh hưởng đến nguồn lao động. Nguồn lao động không chỉ được xem xét dưới góc độ số lượng mà còn ở khía cạnh chất lượng. Chất lượng nguồn lao động là một khái niệm tổng hợp, bao gồm những nét đặc trưng về trạng thái thể lực, trí lực, đạo đức và phẩm chất. Nó thể hiện trạng thái nhất định của nguồn lao động với tư cách vừa là một khách thể vật chất đặc biệt, vừa là chủ thể của mọi hoạt động kinh tế và các quan hệ xã hội.
Trong đó: 7 Thể lực của con người chịu ảnh hưởng của mức sống vật chất, sự chăm sóc sức khỏe và rèn luyện của từng cá nhân cụ thể. Một cơ thể khỏe mạnh, thích nghi với môi trường sống thì năng lượng do nó sinh ra sẽ đáp ứng yêu cầu của một hoạt động cụ thể nào đó. Thể lực có ý nghĩa quan trọng quyết định năng lực hoạt động của con người. Phải có thể lực con người mới có thể phát triển trí tuệ và quan hệ của mình trong xã hội.
Trí lực được xác định bởi tri thức chung về khoa học, trình độ kiến thức chuyên môn, kỹ năng kinh nghiệm làm việc và khả năng tư duy xét đoán của mỗi con người. Trí lực thực tế là một hệ thống thông tin đã được xử lý và lưu giữ lại trong bộ nhớ của mỗi cá nhân con người, được thực hiện qua nhiều kênh khác nhau. Nó được hình thành và phát triển thông qua giáo dục đào tạo cũng như quá trình lao động sản xuất. Đạo đức, phẩm chất là những đặc điểm quan trọng trong yếu tố xã hội của nguồn lao động bao gồm toàn bộ những tình cảm, tập quán phong cách, thói quen, quan niệm, truyền thống, các hình thái tư tưởng, đạo đức và nghệ thuật., gắn liền với truyền thống văn hóa.
Một nền văn hóa với bản sắc riêng luôn là sức mạnh nội tại của một dân tộc. Kinh nghiệm thành công trong phát triển kinh tế của Nhật Bản và các nước NICs châu Á là tiếp thu kỹ thuật phương Tây trên cơ sở khai thác và phát huy giá trị tốt đẹp của nền văn hóa dân tộc để đổi mới và phát triển. Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại, là tiền đề phát triển của nhau. Muốn nâng cao chất lượng nguồn lao động phải nâng cao cả ba mặt: thể lực, trí lực và đạo đức, phẩm chất.
Tuy nhiên mỗi yếu tố trên lại liên quan đến một lĩnh vực rất rộng lớn. Thể lực và tình trạng sức khỏe gắn với dinh dưỡng, y tế và chăm sóc sức khỏe. Trí lực gắn với lĩnh vực giáo dục đào tạo, còn đạo đức phẩm chất chịu ảnh hưởng của truyền thống văn hóa dân tộc, nền tảng văn hóa và thể chế chính trị. Do vậy, để đánh giá chất lượng nguồn lao động thường xem xét trên ba mặt: sức khỏe, trình độ văn hóa và chuyên môn kỹ thuật, năng lực phẩm chất của người lao động.
8 - Khái niệm về lao động xuất khẩu: Sự di chuyển lao động từ nước này sang nước khác để kiếm sống nằm trong phạm trù chung là di dân quốc tế (international migration), di dân quốc tế bao hàm cả những người hoặc dòng người di chuyển từ nước này sang nước khác với nhiều lứa tuổi khác nhau, nhiều lý do khác nhau, trong số đó có một bộ phận thuộc lực lượng lao động (labour force). Những tiến bộ của khoa học công nghệ trên thế giới, sự phát triển kinh tế thị trường ngày càng lan rộng trên bình diện quốc tế dẫn đến toàn cầu hóa kinh tế là xu thế khách quan của thời đại, vì vậy phân công lao động quốc tế luôn có những thay đổi là điều tất yếu. Việc phân công lao động quốc tế có đặc điểm sau: Nhóm các nước phát triển vừa có nhu cầu lao động đơn giản trong hệ thống cả ba lĩnh vực: Dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp, nhất là lao động trong các công việc thuộc nhóm 3D (Dirty: Bẩn thỉu, Difficult: khó khăn, Danggerous: nguy hiểm). Ngược lại bản thân các nước này lại đưa lao động có trình độ kỹ thuật và chuyên viên bậc cao (lao động chất xám) đi làm việc ở các nước chậm phát triển khác dưới hình thức chuyên gia, lao động kỹ thuật có mức thu nhập cao (ví dụ Nhật Bản với Việt Nam).
9 Quốc Gia Xuất Khẩu Lao Động CÁC NƯỚC CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN PHÁT TRIỂN CHUYÊN GIA LAO ĐỘNG KỸ THUẬT ĐƠN GIẢN, VIÊN LÀNH KỸ THUẬT NGHỀ ĐƠN GIẢN CÁC NƯỚC CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN PHÁT TRIỂN QUỐC GIA NHẬP KHẨU LAO ĐỘ Sơ đồ 1. Xu hướng chuyển dịch lao động tại các Quốc gia Nhóm các nước đang phát triển và chậm phát triển cũng vừa có nhu cầu đưa lao động sang các nước phát triển và đang phát triển có nhu cầu thuê mướn lao động nhằm làm giảm sức ép việc làm trong nước và để tăng nguồn ngoại tệ (Việt Nam và Hàn quốc, Nhật Bản). Bên cạnh đó, ngayNG trong các nước này cũng có nhu cầu trao đổi lao động theo từng thời kỳ, từng thời vụ (Việt Nam và Lào, Malaysia và Thái Lan). Ngoài ra, các nước này còn nhập khẩu lao động chất lượng cao dưới các hình thức chuyên gia, kỹ thuật viên khi chuyển giao khoa học công nghệ tiên tiến trong quá trình phát triển kinh tế đất nước nhất là trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
Xuất khẩu lao động: Trong những năm gần đây, công việc đưa người lao động có tổ chức từ một quốc gia này tới một quốc gia khác có nhu cầu thuê mướn sức lao động đã trở thành phổ biến. Đó chính là xuất khẩu lao động. Xuất khẩu lao động là 10 sự di chuyển lao động có tổ chức đi làm việc trong thời hạn nhất định ở nước ngoài thông qua các hiệp định về XKLĐ và các thỏa thuận khác giữa các quốc gia nhận và gửi lao động. Những nước xuất khẩu lao động chuyên môn kỹ thuật giản đơn thường là những nước kém phát triển hoặc phát triển với tốc độ chậm mà không ưu tiên đẩy mạnh các các ngành dùng nhiều lao động, những nước này vừa đông dân số, vừa đang trong giai đoạn chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Hoạt động XKLĐ được diễn ra sôi động khi mà các chính sách mở cửa kinh tế của Nhà nước được tiến hành. Xuất khẩu lao động cần phải được phân biệt với lao động xuất khẩu. Một cái là thể hiện hành động di chuyển đối tượng một cách có tổ chức, cái kia thể hiện bản thân đối tượng được di chuyển. Khái niệm về nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu Nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu là khái niệm được hiểu ở góc độ hoàn thiện, nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu và điều chỉnh hợp lý số lượng nguồn lao động xuất khẩu.
Để có thể nâng cao được chất lượng nguồn lao động xuất khẩu, xét từ góc độ vĩ mô của nền kinh tế, phải có các cơ chế, chính sách tác động vào nguồn lao động xuất khẩu. Như vậy, có thể hiểu khái niệm nâng cao chất lượng nguồn lao động xuất khẩu là tổng thể các cơ chế, chính sách và biện pháp hoàn thiện, nâng cao phẩm chất về trí tuệ, thể chất, tâm lý - xã hội của lao động xuất khẩu và điều chỉnh hợp lý về số lượng lao động đáp ứng yêu cầu đòi hỏi về nguồn lao động cho sự phát triển kinh tế xã hội trong từng giai đoạn phát triển. Nâng cao chất lượng lao động xuất khẩu không chỉ giúp xóa đói giảm nghèo cho lực lượng lao động xuất khẩu, mà còn giúp nâng cao chất lượng nguồn lao động nói chung thông qua trình độ chuyên môn kỹ thuật, ngoại ngữ, tác phong công nghiệp, tư duy kinh tế trong cộng đồng người lao động. Từ đó, góp phần chuyển dịch nền kinh tế quốc dân theo hướng tích cực, tăng tỷ lệ việc làm và nâng cao đời sống nguồn lao động.
Nội dung lao động xuất khẩu 11 1. Các hình thức xuất khẩu lao động Hiện nay, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, hầu hết các nước vừa nhập khẩu lao động lại vừa xuất khẩu lao động để phục vụ nhu cầu của thị trường lao động.