MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Sau hơn 30 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, nền kinh tế nước ta đã có những bước tiến vượt bậc. Sang giai đoạn phát triển mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đặc biệt đối với lĩnh vực nông nghiệp vốn được coi là thế mạnh của Việt Nam cũng được Đảng và Nhà nước tập trung nguồn lực để tạo ra sự đột phá. Kinh tế tập thể là một thành phần kinh tế được Đảng và Nhà nước ta xác định cùng với kinh tế nhà nước trở thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân, có vai trò rất quan trọng trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở nước ta hiện nay.
Kinh tế tập thể phát triển với nhiều hình thức đa dạng, từ thấp đến cao, trong đó Hợp tác xã (HTX) là nồng cốt. Việc mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của kinh tế Hợp tác xã trong các ngành kinh tế là một đòi hỏi bức thiết đối với cả nước cũng như các tỉnh, thành phố. Hợp tác xã (HTX) là một đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, hướng theo lợi nhuận khi tham gia thị trường, là tổ chức phi lợi nhuận khi hỗ trợ phát triển kinh tế hộ xã viên vì lợi ích của xã viên, do vậy HTX hội tụ đủ giá trị kinh tế - xã hội và nhân văn phù hợp với tiến trình phát triển của nhân loại. Kinh tế HTX không đối lập với kinh tế tư nhân mà là sự liên kết các hình thức sở hữu, các quyền sử dụng đất đai, tài sản, vốn, sức lao động với hình thức tổ chức thích hợp, sản xuất tập trung; làm dịch vụ đầu vào, đầu ra, gia công, chế biến và dịch vụ tập trung một số công đoạn trong quy trình sản xuất và canh tác, trợ giúp hộ xã viên giảm chi phí sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tạo việc làm… HTX có vai trò bà đỡ đối với người lao động, giúp họ trong quá trình tổ chức sản xuất sao cho có lợi nhất; cung cấp dịch vụ đầu vào cho những hộ chưa sản xuất hàng hóa và giúp đỡ thêm về các dịch vụ đầu ra cho các hộ sản xuất hàng hóa; làm điểm tựa để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời mở mang ngành nghề, phân công lại lao động, góp phần đảm bảo 1 Luan van công bằng xã hội, thực hiện dân chủ ở nông thôn và tiến tới từng bước xóa đói giảm nghèo (Chu Thị Hảo, 2003).
Trong điều kiện nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) từ một nền kinh tế yếu kém, chủ yếu là nông nghiệp, mang nặng tính tự cung, tự cấp, đặc biệt trong nông nghiệp phần lớn là các hộ nông dân cá thể thì mô hình hợp tác giữa những người sản xuất kinh doanh dịch vụ riêng lẻ dưới nhiều hình thức đa dạng là xu thế tất yếu khách quan. Nâng cao chất lượng HTX dịch vụ nông nghiệp (HTX DVNN) không chỉ nhằm mục tiêu kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội to lớn. Nhà nước thông qua HTX NN để thực hiện chính sách giúp đỡ, hỗ trợ xã viên xóa đói, giảm nghèo, thực hiện bình đẳng, công bằng và tiến bộ xã hội. Do đó có thể khẳng định HTX NN có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội của đất nước.
Từ khi luật HTX ra đời, nhất là luật HTX năm 2012 với hệ thống hành lang pháp lý rõ ràng hơn trước, đã làm cho bản chất HTX thay đổi theo hướng tích cực, nhờ đó đã tạo điều kiện cho các loại hình HTX ngày càng phát triển. Cũng như cả nước, thời gian qua các HTX nói chung, HTX NN nói riêng đã có những chuyển biến tích cực, đổi mới cơ bản về tổ chức bộ máy, quy mô và phương thức hoạt động theo luật HTX năm 2012, đáp ứng được phần lớn các dịch vụ cơ bản trong sản xuất nông nghiệp cho kinh tế hộ, giúp đỡ hộ xã viên tăng năng lực sản xuất, sản phẩm đạt chất lượng cao, mở rộng thị trường…Tuy nhiên, trong quá trình phát triển các HTX ở nông thôn của huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp thời gian qua vẫn còn bộc lộ những hạn chế như: đa phần các HTX còn mang tính đơn lẻ, thiếu sự liên kết theo hệ thống, phạm vi hoạt động nhỏ hẹp; phần lớn các HTX có quy mô nhỏ, thiếu vốn để tổ chức các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ; đại bộ phận nhân dân chưa có sự nhận thức đúng về HTX, đa số cơ sở vật chất của các HTX còn nghèo nàn, lạc hậu, các công trình và điều kiện đảm bảo dùng để ứng dụng, thực nghiệm và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật cho xã viên không có; trình độ quản lý của đội ngũ cán bộ HTX còn nhiều hạn chế; các chính sách hỗ trợ phát triển HTX của Nhà nước chưa được triển khai đồng bộ, HTX vẫn khó tiếp cận; sự đa dạng hóa ngành nghề sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của hệ thống HTX còn thụ động. 2 Luan van Xuất phát từ lý luận và thực tiễn đó, đề tài “Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động của Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp ở huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp” được tiến hành thực hiện. Các công trình nghiên cứu có liên quan trong nước 2.1 Các công trình nghiên cứu có liên quan trong nước Trong những năm gần đây, các công trình nghiên cứu có liên quan đến tình hình hoạt động của các hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam cũng đang dần được quan tâm như: Lương Xuân Quỳ và Nguyễn Thế Nhã (1999) đã nghiên cứu đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn.
Trong công trình này, các tác giả đã trình bày cơ sở lý luận và thực tiễn để phát triển kinh tế hợp tác trong nông nghiệp, nông thôn Việt Nam; khái quát quá trình phát triển các hình thức tổ chức và quản lý HTX giai đoạn trước năm 1986 và từ 1986 đến nay. Từ thực trạng phát triển mô hình tổ chức quản lý các HTX ở nông thôn của một số địa phương miền Bắc tiêu biểu, các tác giả cũng đã đưa ra những phương hướng và giải pháp cụ thể để xây dựng mô hình tổ chức và quản lý có hiệu quả các HTX. Nguyễn Văn Bình và cs. (2001) đã nghiên cứu kinh tế hợp tác, hợp tác xã ở Việt Nam - Thực trạng và định hướng phát triển.
Các tác giả đã hệ thống hoá quá trình hình thành, phát triển các loại hình kinh tế hợp tác, HTX trên thế giới và ở Việt Nam với những thành công và tồn tại, từ đó xây dựng những định hướng phát triển phù hợp với đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước. Phạm Thị Cần và cs. (2003) đã nghiên cứu kinh tế hợp tác trong nông nghiệp nước ta hiện nay. Các tác giả đã tập trung phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về kinh tế hợp tác, hợp tác xã; sự cần thiết khách quan phải lựa chọn các mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế nông nghiệp nông thôn nước ta.
Từ đó đề xuất những giải pháp phát triển các mô hình kinh tế hợp tác, hợp tác xã trong nông nghiệp nông thôn ở Việt Nam hiện nay. Hồ Văn Vĩnh (2005) đã nghiên cứu về phát triển hợp tác xã nông nghiệp trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta”. Ở bài viết này, tác giả đã bàn đến những cách thức chuyển đổi HTXNN kiểu cũ sang HTXNN kiểu mới trên cơ sở quán 3 Luan van triệt đường lối đổi mới HTXNN của Đảng. Tác giả cũng đã nêu lên mối quan hệ tác động qua lại giữa HTXNN và CNH, HĐH, đồng thời nêu ra những nguyên nhân của sự khó khăn khi phát triển HTXNN trong thời kì mới và những giải pháp để tháo gỡ khó khăn này.
Đề tài nghiên cứu về HTX kiểu mới trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn ở Nghệ An, nhằm góp phần giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Tô Thiện Hiền (2006) đã phan tích thực trạng và giải pháp hợp tác xã nông nghiệp ở An Giang. Đề tài nghiên cứu nhằm xác định hình thức nghiên cứu hợp tác nông nghiệp tại địa bàn tỉnh An Giang, từ khâu vận động nông dân cho hiểu ý nghĩa của hợp tác xã kiểu mới đến các quy trình thành lập, đào tạo cán bộ hợp tác xã, hoạt động sản xuất, tín dụng, tiêu thụ sản phẩm và rút ra những bất cập, những thiếu xót và những chỗ mạnh của phong trào hợp tác xã của tỉnh An Giang. Ngô Thị Cẩm Linh (2008) đã đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
Tác giả đã phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng của quá trình phát triển HTX nông nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp. Nguyễn Văn Lân (2010) nghiên cứu về phát triển hợp tác xã nông nghiệp ngoại thành Hà Nội. Từ nghiên cứu những vấn đề lý luận về Hợp tác xã nông nghiệp, phát triển hợp tác xã nông nghiệp, từ đó tác giả đánh giá khái quát thực trạng, dự báo xu thế phát triển và đề ra những quan điểm, giải pháp phát triển HTX NN ngoại thành Hà Nội. Nguyễn Thanh Đức (2014) đã nghiên cứu phát triển Hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
Tác giả xuất phát từ những vấn đề lý luận chung về kinh tế hợp tác, Hợp tác xã và hợp tác xã nông nghiệp; đánh giá thực trạng phát triển kinh tế - xã hội nói chung, hợp tác xã nông nghiệp nói riêng; từ đó đưa ra những giải pháp nhằm tiếp tục phát triển hợp tác xã nông nghiệp trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình thời gian tới. Phan Trọng An (2011) đã phân tích kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Nhật Bản và bài học rút ra cho Việt Nam. Bài viết đã khảo sát kinh nghiệm phát triển hợp tác xã nông nghiệp của Nhật Bản, qua đó rút ra nhiều vấn đề và bài 4 Luan van học để phát triển hợp tác xã nông nghiệp ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.