phần mở đầu, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và tổng quan về địa bàn nghiên cứu Chủ yếu tập trung giới thiệu những khái niệm liên quan đến đề tài, xây dựng khung lý thuyết để nghiên cứu đề tài và giới thiệu tổng quan về tỉnh Tiền Giang với những đặc điểm tự nhiên, xã hội cũng nhƣ những đặc điểm dân cƣ, đời sống kinh tế, văn hóa của ngƣời dân nơi đây. Thực trạng hoạt động của các Trung tâm Văn hóa huyện, thị của tỉnh Tiền Giang 14 Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của một số Trung tâm Văn hóa cấp huyện, thị, thành phố của tỉnh Tiền Giang: Trung tâm Văn hóa thành phố Mỹ Tho, Trung tâm Văn hóa - Thể thao thị xã Cai Lậy và Trung tâm Văn hóa - Thể thao huyện Cái Bè. Phƣơng hƣớng và giải pháp nâng cao chất lƣợng hoạt động của các Trung tâm Văn hóa cấp huyện, thị của tỉnh Tiền Giang Trên cơ sở phân tích thực trạng chất lƣợng hoạt động của các Trung tâm Văn hóa đƣợc nghiên cứu, phƣơng hƣớng phát triển Trung tâm Văn hóa trong thời gian tới của Tỉnh Ủy, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Tiền Giang, tác giả đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lƣợng hoạt động của Trung tâm Văn hóa cấp huyện, thị của tỉnh Tiền Giang.
15 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm liên quan 1. Văn hóa Văn hóa là một khái niệm có nội hàm hết sức phong phú và phức tạp. Kể từ khi văn hóa trở thành đối tƣợng nghiên cứu của Văn hóa học - khoa học nghiên cứu về văn hóa cho đến nay, đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Định nghĩa đầu tiên về văn hóa xuất hiện ở Châu Âu, gắn liền với tên tuổi của nhà nhân chủng học nổi tiếng ngƣời Anh - Edward Burnett Tylor (1832- 1917). Trong công trình nghiên cứu Văn hóa nguyên thủy (1871), ông cho rằng: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm trí thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, pháp luật, phong tục và cả những năng lực, thói quen mà con người đạt được trong xã hội” [32, tr. Đây là định nghĩa đầu tiên về văn hóa, là cái mốc cho bƣớc ngoặc để nghiên cứu văn hóa phƣơng Tây ra đời. Tổ chức UNESCO cho rằng: “Văn hóa phải được xem như một tập hợp những nét khác biệt về vật chất và tinh thần, về trí tuệ và cảm xúc, làm rõ nét một xã hội, hay một nhóm xã hội;.ngoài nghệ thuật và thơ văn, văn hóa bao hàm cách sống, cách chung sống, hệ thống các giá trị, truyền thống và tín ngưỡng” [45,tr.
Khi phát động thập kỷ Thế giới phát triển văn hóa (1988-1997), cựu Tổng giám đốc UNESCO - ông Federico Mayor đƣa ra định nghĩa về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỉ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, 16 các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [39, tr. Trong Nghị quyết Trung ƣơng 05 (Khóa VIII) của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng ta khẳng định: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động, sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước, là kết quả giao lưu tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc. Ngoài các định nghĩa trên, còn rất nhiều định nghĩa về văn hóa của các nhà nghiên cứu khác, với số lƣợng phong phú các định nghĩa về văn hóa đã phản ánh những góc độ tiếp cận khác nhau, đồng thời cũng cho thấy văn hóa là một lĩnh vực vô cùng rộng lớn, bao trùm lên các mặt trong hoạt động sống của con ngƣời, đƣợc biểu hiện rất phong phú và đa dạng, khiến cho mọi góc độ tiếp cận đều khó có thể bao quát hết đƣợc nội hàm của nó.
Nhƣng suy cho cùng chúng ta có thể hiểu: “Văn hóa là sự tổng hòa của các giá trị vật chất và tinh thần được con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình lao động và sản xuất, gắn liền với tiến trình lịch sử loài người. Hoạt động văn hóa và chất lượng hoạt động văn hóa 17 Hoạt động văn hóa Hoạt động văn hóa là một bộ phận của hoạt động xã hội nhằm tạo ra các sản phẩm văn hóa thỏa măn nhu cầu tinh thần của con ngƣời, hƣớng con ngƣời tới giá trị chân, thiện mỹ, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Hoạt động văn hóa bao gồm quá trình sáng tạo, sản xuất, bảo quản, phổ biến và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa. Đây là loại sản phẩm rát khác biệt với các sản phẩm thông thƣờng ở chỗ: nó mang giá trị và ý nghĩa tinh thần cao, có khả năng nâng cao nhận thức và tình cảm của con ngƣời, góp phần bồi dƣỡng tâm hồn, trí tuệ, nhân cách và bản lĩnh của con ngƣời.
Sản phẩm văn hóa gồm cả sản phẩm vật thể và phi vật thể, tạo nên môi trƣờng văn hóa – tinh thần liên kết sức mạnh của các nhóm xã hội, các thế hệ, tạo nên sứ sống của dân tộc trong công cuộc dựng nƣớc và giữ nƣớc qua hàng ngàn năm lịch sử. Đồng thời chính môi trƣờng văn hóa này đã và sẽ nuôi dƣỡng và phát triển nhân cách con ngƣời Việt nam qua các thế hệ. Nhƣ vậy có thể nói hoạt động văn hóa chính là thƣớc đo chất lƣợng đời sống văn hóa ting thần của con ngƣời và cộng đồng. Hoạt động văn hóa trong cộng đồng xã hội có các dạng phổ biến nhƣ: sáng tác và biểu diễn văn nghệ; ứng dụng khoa học kỹ thuật vào đời sống; khai trí – giáo dục nhằm nâng cao kiến thức cho mọi ngƣời; lƣu giữ các sản phẩm văn hóa; thụ hƣởng sản phẩm văn hóa, hoạt động lễ hội, tín ngƣỡng; xây dựng gia đình văn hóa, hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí….Những hoạt động này đƣợc thực hiện thuận lợi và đạt hiệu quả cao thông qua các thiết chế văn hóa – xã hội nhƣ : gia đình, trƣờng học, trung tâm văn hóa, thƣ viện.
Đây chính là nơi tổ chức và chuyển tải các giá trị văn hóa đến cộng đồng một cách tích cực và nhanh chóng nhất. Chất lƣợng hoạt động văn hóa 18 “Chất lƣợng”là một thuật ngữ phức tạp, tồn tại từ lâu trong lịch sử loài ngƣời. Ban đầu khái niệm chất lƣơng gắn liền hoạt động sản xuất ra của cải vật chất, còn sau nay nó đƣợc sử dụng phổ biến trong mọi hoạt đông của con ngƣời. Có thể điểm qua một số khái niệm điển hình về chất lƣợng: Theo tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa, trong tiêu chuẩn ISO 8402: 2000 (Quality Management anh Quality Assurance): “Chất lƣợng là toàn bộ các đặc tính của một thực thể (đối tƣợng), tạo cho thực thể (đối tƣợng) đó có khả năng thỏa mãn các nhu cầu đã đƣợc công bố hay còn tiềm ẩn”.
Theo tiêu chuẩn Pháp (NF X 50 – 109) “Chất lƣợng là tiềm năng của một sản phẩm hay dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu ngƣời sử dụng”. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Chất lƣợng là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật (sự việc), làm cho sự vật (sự việc) này đƣợc phân biệt với sự vật (sự việc) khác” [, tr. Nhƣng dù có tiếp cận theo cách nào thì “Chất lƣợng”cũng phải đảm bảo: Phù hợp với tiêu chuẩn đã đƣợc công bố, phù hợp với những đòi hỏi của ngƣời sử dụng, sự kết hợp cả tiêu chuẩn và đòi hỏi của ngƣời tiêu dùng. Đó là yêu cầu không thể thiếu đƣợc để đánh giá chất lƣợng của một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó.
Xem xét chất lƣợng hoạt động văn hóa ở một khía cạnh nào đó chính là xem xét chất lƣợng của một loại sản phẩm, dịch vụ phục vụ nhu cầu văn hóa tinh thần của cộng động. Do vậy cần chú ý xem xét dƣới quan điểm của ngƣời hƣởng thụ dịch vụ: - Sản phẩm, dịch vụ này đạt đƣợc các chỉ tiêu, các đặc trƣng thể hiện tính năng kỹ thuật hay tính hữu dụng của nó đến đâu? - Chi phí cho sản phẩm, dịch vụ có phù hợp không, đáp ứng ngƣời dân nhƣ thế nào? 19 - Có phù hợp với điều kiện tiêu dùng cụ thể của từng ngƣời, từng địa phƣơng không? Với cách tiếp cận này có thể hiểu chất lƣợng hoạt động văn hóa là tổng thể các tiêu chí, đặc trƣng của sản phẩm văn hóa đáp ứng theo nhu cầu văn hóa của ngƣời dân, phù họp với sự phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng miền, địa phƣơng. Quản lý văn hóa Quản lý là các hoạt động có ý thức của ngƣời lãnh đạo, ngƣời đứng đầu, ngƣời chịu trách nhiệm.nhằm định hƣớng, lập kế hoạch đầu tƣ, tổ chức thực hiện, kiểm tra, điều chỉnh, bổ sung, sơ kết, tổng kết, nghiệm thu kết quả một công trình của một tập thể, một cộng đồng. Quản lý “là sự tác động có tổ chức, có định hƣớng của chủ thể lên khách thể nhằm đạt đƣợc mục tiêu định trƣớc” [35, tr.TS Bùi Quang Thanh “khái niệm quản lý văn hóa trong xã hội hiện đại đƣợc hiểu là công việc của nhà nƣớc, đƣợc thực hiện thông qua việc ban hành quy chế, chính sách, tổ chức triển khai, kiểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực văn hóa, đồng thời nhằm góp phần phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phƣơng và cả nƣớc”.
[46] Quản lý văn hóa, thực chất là quản lý Nhà nƣớc về văn hóa.