phần mở đầu, ết luận, phụ lục, luận văn đƣợc bố cục gồm 3 chƣơng chính: CHƢƠNG 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn. CHƢƠNG 2 Thực trạng thực hiện cơ chế tự chủ ở TTVH tỉnh Bến Tre CHƢƠNG 3 Những giải pháp và iến nghị 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ L LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1 1 Cơ sở lý luận 1. Khái niệm về văn hóa và quản lý văn hóa - Các khái niệm về văn hóa Trong những năm gần đây, thuật ngữ văn hóa đƣợc sử dụng ngày càng nhiều trong đời sống xã hội. Văn hóa là hái niệm rộng đƣợc tiếp cận từ nhiều góc độ hác nhau.
Cho đến nay có hàng trăm định ngh a hác nhau về văn hóa. Một trong những hái niệm đƣợc đề cập nhiều ở nƣớc ta là ghi chép của Chủ tịch Hồ Ch Minh về văn hóa đƣợc viết ở cuối tập thơ Nhật ý trong tù “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đ ch của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, hoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [38, tr. Năm 2002 UNESCO đã đƣa ra định ngh a về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa nên được đề c p đến như là một t p hợp của những đặc trưng về tâm h n v t chất tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng ngoài văn học nghệ thu t cả cách sống phương thức chung sống hệ thống giá trị truyền thống và đức tin” [23, tr21].
Khái niệm văn hóa là một phạm trù rộng lớn, bao gồm nhiều mặt của đời sống xã hội. Do đó, l nh vực quản lý nhà nƣớc về văn hóa vô cùng phong phú và đa dạng. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch là cơ quan chuyên môn đƣợc phân công quản lý văn hóa trên lãnh thổ Việt Nam. Các l nh vực mà Bộ phụ trách bao gồm: văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch.
Quản lý đời sống văn hóa cơ sở là một trong những l nh vực của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch do Cục Văn hóa cơ sở đảm trách. Tƣơng tự nhƣ vậy, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thực hiện chức năng tham mƣu, giúp Ủy ban 13 nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nƣớc về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và quảng cáo (trừ quảng cáo trên báo ch , trên môi trƣờng mạng, trên xuất bản phẩm và quảng cáo t ch hợp trên các sản phẩm, dịch vụ bƣu ch nh, viễn thông, công nghệ thông tin) ở địa phƣơng theo quy định của pháp luật; các dịch vụ công thuộc l nh vực quản lý của Sở. Từ các hái niệm trên cho thấy văn hóa là một phạm trù, dù đƣợc tiếp cận ở góc độ hác nhau nhƣng đều mang ý ngh a phát triển và hoàn thiện con ngƣời. Văn hoá trƣớc hết là những hoạt động nhằm đáp ứng nhu cầu hƣởng thụ tinh thần, nâng cao hả năng hiểu biết và sáng tạo.
Các hoạt động, chức năng của TTVH cũng hƣớng đến mục đ ch cơ bản là đem lại đời sống tinh thần tốt đẹp hơn cho ngƣời dân - Khái niệm về quản lý văn hóa và quản lý một TTVH Tất cả các hoạt động trong xã hội rất cần có sự quản lý để đi đúng hƣớng, văn hóa cũng vậy. Từ rất sớm, loài ngƣời đã biết vận dụng yếu tố quản lý vào hoạt động văn hóa từ nhƣng chƣa có ý thức rõ rệt về lý luận. “Quản lý văn hóa trong các giáo trình tiếng Anh là hoạt động gắn với inh tế thị trƣờng và có nội hàm chuyên biệt của quá trình quản lý vi mô, c n hái niệm quản lý văn hóa theo cách hiểu trong ngôn ngữ và thực tiễn hoạt động văn hóa ở Việt Nam hiện nay là hái niệm quản lý v mô và trung mô” [24, tr73]. Theo sự nhìn nhận này, ở nƣớc ta, quản lý văn hóa thƣờng đƣợc hiểu là công việc quản lý của Nhà nƣớc về văn hóa, đƣợc thực hiện thông qua việc ban hành, tổ chức thực hiện, iểm tra và giám sát việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong l nh vực văn hoá.
hái niệm quản lý văn hóa với tƣ cách là quản lý ở cấp vi mô, hay nói cách khác là quản trị các đơn vị, tổ chức cụ thể là một nội hàm chƣa đƣợc chú trọng nhiều hái niệm hái quát sau có thể bao gồm các các cấp độ quản lý khác nhau: “quản lý văn hóa là sự tác động chủ quan bằng nhiều hình thức, phƣơng pháp của chủ thể quản lý đối với hách thể. nhằm đạt đƣợc mục tiêu mong muốn” [23, tr25,26]. Cụ thể, đối với việc quản lý một TTVH, quản lý có thể bao gồm các khía cạnh cụ thể trong một quy trình quản lý nhƣ: định hƣớng, lên ế hoạch, tổ chức thực hiện, giám sát, điều chỉnh ế hoạch để đạt đƣợc các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra. Đồng thời, quản lý một TTVH cũng có thể nhìn nhận dƣới các h a cạnh cụ thể khác nhƣ: cơ 14 cấu bộ máy, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, tổ chức hoạt động, quản lý tài chính.
Quản lý TTVH cũng nhƣ các thiết chế văn hóa luôn cần có sự định hƣớng, điều chỉnh, th ch ứng cho phù hợp với bối cảnh cụ thể, với mục tiêu ngắn hạn và dài hạn, với các nguồn lực sẵn có và tiềm năng, cũng nhƣ các điều iện khác, để các thiết chế văn hóa này có thể thực hiện tốt nhiệm vụ xây dựng con ngƣời mới ngày càng hoàn thiện về đức, tr , thể, mỹ, sử dụng hiệu quả thời gian rỗi hi đến sinh hoạt văn hóa ở trung tâm. Nhìn nhận về quản lý TTVH (NVH) dƣới góc độ quản lý nguồn nhân lực và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tạo động cơ, tăng cƣờng hiệu quả của tập thể ngƣời lao động, từ đó đạt đƣợc các mục tiêu đề ra, tác giả Bùi Tiến Quý cho rằng: Quản lý TTVH “là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đ ch tới tập thể cán bộ công nhân viên bằng hệ thống các phƣơng pháp biện pháp nhằm tạo điều iện thuận lợi để tập thể đó nâng cao hiệu quả và chất lƣợng TTVH và để đạt đƣợc những mục tiêu nhất định đã định trƣớc” [34, tr. Đối với nhiều nƣớc tƣ bản có nền inh tế thị trƣờng phát triển trên thế giới, hái niệm quản lý văn hóa hông đồng ngh a với việc giám sát và can thiệp trực tiếp từ nhà nƣớc đến các đối tƣợng quản lý mà thƣờng mang một ngh a rộng hơn: quản lý có ngh a là điều phối, ch th ch, xúc tác, tạo điều iện thuận lợi cho các đối tƣợng quản lý hoàn thành nhiệm vụ đề ra. Điều này hác với quan niệm quản lý mang ý ngh a phổ biến là quản lý nhà nƣớc ở Việt Nam, đặc biệt là trong thời ỳ bao cấp.
Hơn nữa, quản lý đƣợc diễn ra ở nhiều cấp độ hác nhau, quản lý của nhà nƣớc, quản lý ở đơn vị, tổ chức, ở các cộng đồng, các cá nhân. Chủ thể quản lý vì vậy rất đa dạng nhƣ: nhà nƣớc, doanh nghiệp, cộng đồng, các tổ chức phi ch nh phủ, các cá nhân. Các nhìn nhận về hái niệm quản lý văn hóa này đang đƣợc áp dụng vào Việt Nam trong bối cảnh inh tế thị trƣờng. Trong luận văn, tác giả áp dụng hái niệm chung về quản lý TTVH theo ngh a là quản lý là những tác động có tổ chức, có chủ đ ch của các chủ thể quản lý đến các đối tƣợng quản lý bằng một hệ thống các phƣơng pháp, biện pháp nhằm đƣợc các mục tiêu đã định trƣớc.
Cụ thể, tác giả xem xét quản lý TTVH dƣới các h a cạnh về cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất, nguồn nhân lực, tổ chức hoạt động và hiệu quả hoạt động 15 1. Khái niệm về đời sống văn hóa cơ sở Xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một trong những chủ trƣơng lớn mang t nh chiến lƣợc lâu dài đƣợc Đảng và Nhà nƣớc thực hiện trong suốt thời ỳ quá độ lên Chủ ngh a xã hội ở nƣớc ta. Ngay từ Đề cƣơng về cách mạng văn hoá Việt Nam của Đảng (năm 1943), trong ba nguyên tắc đƣợc nêu “Dân tộc, hoa học, Đại chúng” thì Đại chúng là “chống mọi chủ trƣơng hành động làm cho văn hoá phản lại đông đảo quần chúng hoặc xa đông đảo quần chúng”. Đến Nghị quyết Đại hội IV của Đảng (tháng 12- 1976), hái niệm “đời sống văn hoá” ra đời đặt thành một nhiệm vụ lớn của Đảng trong việc xây dựng nền văn hoá mới: Từ đó đến nay, hi nói đến văn hóa, Đảng đều nhấn mạnh chủ thể thụ hƣởng luôn là nhân dân, tạo mọi điều iện để dân t ch cực phát huy sáng tạo văn hóa.
Có thể hiểu, tinh thần Nghị quyết Đại hội V của Đảng, là phải làm cho văn hoá lan tỏa đến mọi nơi, đến từng ngƣời dân. Việc xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa cơ sở (trong đó có TTVH) luôn đƣợc Đảng xem là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong quá trình phát triển văn hóa Việt Nam. hái niệm đời sống văn hóa cơ sở đã đƣợc một số nhà nghiên cứu đề cập và phân t ch cụ thể. Theo tác giả Hà Văn Tăng, hái niệm cơ sở ngh a là “một địa bàn, địa điểm cụ thể gắn với một đơn vị hành ch nh cơ bản hoặc một đơn vị cụ thể của một tổ chức ch nh trị xã hội” [37,tr39].
Các tác giả Trần Văn Ánh, Nguyễn Xuân Hồng và Nguyễn Văn Hy cho rằng “Công tác xây dựng đời sống văn hóa cơ sở là một tổng hợp những hoạt động của nhiều loại yếu tố văn hóa, do nhiều cơ quan làm công tác giáo dục tiến hành nhằm tuyên truyền giáo dục, truyền bá văn hóa, đáp ứng nhu cầu hƣởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân, xây dựng một nếp sống văn hóa lành mạnh, tiến bộ, văn minh trên từng cộng đồng dân cƣ cơ sở[5, tr. Từ những nhận định trên có thể hiểu rằng xây dựng đời sống văn hóa cơ sở ngh a là nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, ở cơ sở phát huy nếp sống lành mạnh, văn minh, đáp ứng nhu cầu hƣởng thụ và sáng tạo văn hóa của nhân dân.