Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ "Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ hành chính công ở Đồng bằng sông Cửu Long" do nghiên cứu sinh Nguyễn Văn Lĩnh thực hiện tại Học viện Hành chính Quốc gia (chuyên ngành Quản lý công, mã số 9 34 04 03), dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. TS. Đinh Văn Tiến và TS. Bùi Thị Thuỳ Nhi, bảo vệ năm 2022.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Về mặt lý luận, quản lý nhà nước (QLNN) đối với cung ứng dịch vụ công (DVC) nói chung và dịch vụ hành chính công (DVHCC) nói riêng là một chức năng cơ bản của nhà nước nhằm bảo đảm các quyền và nghĩa vụ pháp lý của cá nhân, tổ chức. Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ tiếp cận vấn đề dưới góc độ nhà nước trực tiếp cung ứng DVC, trong khi lý luận về QLNN đối với hoạt động cung ứng DVHCC với tư cách là chủ thể quản lý toàn diện vẫn chưa được hệ thống hóa đầy đủ. Bên cạnh đó, các vấn đề về thể chế hóa việc chuyển giao nhiệm vụ, DVHCC cho các tổ chức ngoài nhà nước theo chủ trương của Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII vẫn còn nhiều nội dung chưa được làm rõ.

Về mặt thực tiễn, vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có những nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và truyền thống văn hóa. Mặc dù công tác QLNN đối với cung ứng DVHCC đã đạt được những chuyển biến tích cực thông qua việc cải thiện Chỉ số Hài lòng về sự phục vụ hành chính (SIPAS), thực tiễn vẫn bộc lộ nhiều hạn chế:

  • Theo Chỉ số Năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) năm 2020, có 07 địa phương tại ĐBSCL xếp từ thứ hạng 39 trở lên, trong đó 02 địa phương xếp hạng thấp nhất cả nước.
  • Hệ thống văn bản quy định thủ tục hành chính ở một số lĩnh vực chưa đồng bộ; thủ tục hành chính còn phức tạp.
  • Mô hình dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) dù được đầu tư nhưng tỷ lệ phát sinh hồ sơ thực tế còn thấp.
  • Việc huy động các tổ chức ngoài khu vực nhà nước tham gia cung ứng DVHCC còn hạn chế, chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đồng đều.

Mục tiêu nghiên cứu

  • Mục đích chung: Xác lập căn cứ khoa học về QLNN đối với cung ứng DVHCC để nhận dạng, phân tích thực trạng tại ĐBSCL giai đoạn 2015–2020; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị có cơ sở khoa học nhằm hoàn thiện QLNN đối với cung ứng DVHCC ở ĐBSCL đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
  • Mục đích cụ thể:
    1. Đề xuất khung nội dung QLNN đối với cung ứng DVHCC trên cơ sở lý thuyết quản lý làm công cụ đánh giá thực trạng.
    2. Đề xuất các giải pháp hoàn thiện từng nội dung QLNN đối với cung ứng DVHCC ở ĐBSCL nhằm nâng cao mức độ hài lòng của người dân và tổ chức.

Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học

Luận án xác định 03 câu hỏi nghiên cứu và 03 giả thuyết khoa học tương ứng:

  • Câu hỏi 1: Tại sao phải đổi mới QLNN đối với cung ứng DVHCC?
    • Giả thuyết 1: Cần phải đổi mới QLNN đối với cung ứng DVHCC để thích ứng với bối cảnh mới theo định hướng xây dựng nền hành chính hiện đại, lấy công dân làm trung tâm phục vụ, nâng cao năng lực cạnh tranh và khắc phục những hạn chế thực tiễn tại ĐBSCL.
  • Câu hỏi 2: Những nội dung trọng tâm mà các địa phương ở ĐBSCL cần quan tâm thực hiện trong việc hoàn thiện QLNN đối với cung ứng DVHCC ở địa phương là gì?
    • Giả thuyết 2: Các trụ cột cơ bản của nội dung QLNN đối với cung ứng DVHCC ở địa phương cần được đổi mới đồng bộ; xóa bỏ rào cản tiếp cận của người dân, trong đó nâng cao hiệu quả mô hình DVCTT là nội dung then chốt, lâu dài.
  • Câu hỏi 3: Vì sao huy động sự tham gia của cơ quan, tổ chức ngoài cơ quan hành chính nhà nước vào cung ứng DVHCC là một trong những nội dung mà Đảng và Chính phủ chủ trương phải thực hiện trong đổi mới QLNN đối với cung ứng DVHCC?
    • Giả thuyết 3: Huy động sự tham gia của các tổ chức ngoài nhà nước giúp giảm gánh nặng cho ngân sách và bộ máy hành chính, tạo tiền đề tinh gọn tổ chức bộ máy và tinh giản biên chế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động QLNN đối với cung ứng DVHCC.
  • Phạm vi nội dung: Nghiên cứu hoạt động của Ủy ban nhân dân (UBND) và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND ở 03 cấp chính quyền địa phương tại ĐBSCL đối với danh mục DVHCC; tập trung vào 06 nội dung quản lý: thể chế, bộ máy, nhân sự, cơ sở vật chất, chất lượng dịch vụ và huy động tổ chức ngoài nhà nước.
  • Phạm vi không gian: 13 tỉnh, thành phố khu vực ĐBSCL (01 thành phố trực thuộc Trung ương là Cần Thơ và 12 tỉnh: Long An, Đồng Tháp, An Giang, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Hậu Giang, Kiên Giang, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cà Mau).
  • Phạm vi thời gian: Đánh giá thực trạng giai đoạn 2015–2020; giải pháp đề xuất đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật và phân nhóm các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo từng chủ đề trọng tâm:

Các hướng nghiên cứu lý luận và thực tiễn đã công bố

  1. Vai trò của nhà nước và bản chất dịch vụ công:

    • Báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 1998) Nhà nước trong một thế giới đang chuyển đổi chỉ ra chiến lược hai phần (làm cho vai trò nhà nước tương xứng năng lực và nâng cao năng lực thể chế) cùng 05 nhiệm vụ cốt lõi của chính phủ.
    • S. Chiavo-Sam và S. Sumdaram (2003) Phục vụ và duy trì: cải thiện hành chính công trong một thế giới cạnh tranh nghiên cứu toàn diện các khía cạnh hành chính công đầu thế kỷ XXI.
    • Các tài liệu của Liên Hiệp quốc (UN), Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) phân loại chức năng chính phủ và chỉ rõ vai trò cung ứng DVHCC gắn liền thủ tục hành chính.
    • David Cameron và Nick Clegg với Open Public Services White Paper chia DVC thành 3 loại: Dịch vụ cá nhân (Individual services), Dịch vụ khu dân cư (Neighbourhood services), Dịch vụ được ủy thác (Commissioned services).
    • Frost Sullivan phân loại 8 nhóm DVC và nêu 6 nguyên tắc hướng tới hiệu quả cung ứng.
    • Đặng Đức Đạm phân tích dịch vụ thuần công, dịch vụ không thuần khiết, hàng hóa khuyến dụng và 3 loại hình DVC tại Việt Nam (dịch vụ công cộng, dịch vụ công ích, DVHCC).
    • Giáo trình Hành chính công (NXB Thống kê, 2003), Tài liệu bồi dưỡng ngạch Chuyên viên cao cấp (Học viện Hành chính Quốc gia), Tạ Quang Ngọc làm rõ hai chức năng cơ bản của nhà nước: cai trị/quản lý (governance) và phục vụ (public service delivery).
  2. Quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ công và DVHCC:

    • Pedro A. Villezca Becerra phân tích cải cách DVC thế kỷ 21 của Singapore (PS21) với 2 mục tiêu và 4 trọng tâm nền công vụ.
    • Phan Huy Đường (2016) trong Quản lý công phân định vai trò nhà nước - thị trường, các hình thức xã hội hóa và đối tác công - tư.
    • Phạm Thị Hồng Điệp đúc kết 04 kinh nghiệm quốc tế về quản lý cung ứng DVC.
    • Lê Chi Mai (2006) trong Dịch vụ hành chính công phân tích cơ sở lý luận, thực tiễn cải cách DVHCC tại Việt Nam, đề xuất đổi mới tư duy từ hành chính "quản lý" sang hành chính "phục vụ", xác định phạm vi thu tiền dịch vụ và chuyển giao cho tư nhân.
  3. Thể chế và chính sách dịch vụ công trực tuyến:

    • Trần Thu Hường nghiên cứu xã hội hóa DVC trong lĩnh vực tư pháp.
    • Nguyễn Ngọc Bích (2012) nghiên cứu hoàn thiện pháp luật về DVC trong lĩnh vực hành chính.
    • Phạm Quốc Sử (2020) nghiên cứu kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn các tỉnh miền Tây Nam Bộ.
    • Quách Thị Minh Phượng (2020), Quách Thị Minh Phượng và Phạm Văn Phong (2020) nghiên cứu quy trình chính sách DVC trực tuyến.
    • Phan Thị Bích Thảo chỉ ra 04 nội dung QLNN đối với DVC trực tuyến trước tác động của Cách mạng Công nghiệp 4.0.
  4. Quản lý chất lượng và đánh giá sự hài lòng đối với DVHCC:

    • Ngân hàng Thế giới và Ủy ban Châu Âu (2018) với Indicators of Citizen-Centric Public service delivery đưa ra công cụ khảo sát công dân (citizen survey) và danh mục kiểm tra của công chức (public administrator checklist).
    • Aurel Mihail Titu thiết lập chỉ số chất lượng gồm 5 nhóm lớn, 9 nhóm nhỏ với 12 chỉ số tại chính quyền địa phương.
    • Vũ Quỳnh (2015) xác định 5 yếu tố cấu thành chất lượng DVHCC và các nhóm nhân tố ảnh hưởng trên địa bàn thành phố Hà Nội.
    • Vũ Thị Hoài Phương (2017), Nguyễn Tiến Dũng - Nguyễn Thị Lụa - Cao Thị Sen (nghiên cứu dịch vụ đất đai tại Bình Thủy, Cần Thơ), Nguyễn Hữu Hải (tiếp cận quản lý chất lượng theo quá trình gồm 5 nhóm tiêu chí).
    • Cồ Như Dũng (2018) xây dựng mô hình đánh giá sự hài lòng của người dân trong lĩnh vực xây dựng tại Hà Nội với 5 thành phần.
  5. Huy động sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước:

    • Đỗ Anh Đức và Lê Hùng Sơn phân tích lý thuyết Quản lý công mới, chuyển đổi vai trò nhà nước từ "chèo thuyền" sang "lái thuyền".
    • Nguyễn Phước Thọ chỉ ra 4 cơ sở chuyển giao DVHCC cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội.
    • Phan Hải Hồ phân tích xã hội hóa hoạt động chứng thực để giảm tải cho cơ quan hành chính.

Khoảng trống nghiên cứu luận án tập trung giải quyết

  • Các nghiên cứu trước đây tiếp cận QLNN đối với DVHCC còn phân tán, manh mún, chưa thiết lập một khung lý luận hoàn chỉnh về các yếu tố cấu thành, nguyên tắc, công cụ và nội dung quản lý cấp địa phương.
  • Chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về QLNN đối với cung ứng DVHCC tại địa bàn đặc thù 13 tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL.
  • Chưa làm rõ cơ chế, tiêu chí, lộ trình và phạm vi chuyển giao các nhiệm vụ, công đoạn DVHCC cho các tổ chức ngoài nhà nước theo tinh thần Nghị quyết 18-NQ/TW.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Dịch vụ công (DVC): Những hoạt động phục vụ lợi ích chung, thiết yếu, phục vụ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân và tổ chức, do Nhà nước trực tiếp cung ứng hoặc ủy quyền cho tổ chức khác thực hiện nhằm bảo đảm trật tự và công bằng xã hội (gồm DVHCC, dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích).
  • Dịch vụ hành chính công (DVHCC): Loại DVC do cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền cung ứng hoặc ủy quyền cung ứng cho cá nhân, tổ chức dựa trên thẩm quyền hành chính – pháp lý dưới hình thức các văn bản có giá trị pháp lý (giấy phép, đăng ký, chứng nhận, quyết định hành chính...).
  • Khung phân tích 06 trụ cột QLNN đối với cung ứng DVHCC ở địa phương:
    1. Xây dựng và hoàn thiện thể chế QLNN đối với cung ứng DVHCC.
    2. Tổ chức bộ máy quản lý và cung ứng DVHCC.
    3. Xây dựng và phát triển nhân sự quản lý và cung ứng DVHCC.
    4. Hiện đại hóa cơ sở vật chất cung ứng DVHCC.
    5. Quản lý chất lượng dịch vụ hành chính công.
    6. Huy động sự tham gia của các cơ quan, tổ chức ngoài cơ quan hành chính nhà nước.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:

  • Phương pháp luận: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, logic học.
  • Phương pháp phân tích tài liệu và tổng hợp: Rà soát hệ thống văn kiện của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định 61/2018/NĐ-CP, Nghị định 45/2020/NĐ-CP, Quyết định 45/2016/QĐ-TTg), các báo cáo tổng kết cải cách hành chính, số liệu thống kê kinh tế - xã hội ĐBSCL.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các mô hình cung ứng DVHCC giữa các địa phương; so sánh lý thuyết Hành chính công truyền thống, Quản lý công mới (NPM), Dịch vụ công mới (NPS) và Quản trị công mới (NPG).
  • Phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi:
    • Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu phi xác suất thuận tiện có chủ đích trên địa bàn 05 tỉnh, thành phố đại diện cho ĐBSCL (gồm cả địa bàn đô thị và nông thôn): TP. Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Sóc Trăng.
    • Đối tượng khảo sát: Công chức tại Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện, công chức cấp xã; người dân và đại diện tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính.
    • Quy mô mẫu: Phát ra 600 phiếu hỏi, thu về 578 phiếu hợp lệ đạt yêu cầu phân tích.
Nhóm đối tượng khảo sát Số phiếu phát ra Số phiếu thu về hợp lệ Số câu hỏi trong phiếu
Cán bộ, công chức 400 378 28 câu
Người dân và doanh nghiệp 200 200 16 câu
Tổng cộng 600 578 --
  • Phương pháp thống kê: Xử lý dữ liệu định lượng từ khảo sát để lượng hóa mức độ hài lòng, tính chuyên nghiệp của công chức, đánh giá về cơ sở vật chất, khả năng tiếp cận thông tin và mức độ sẵn sàng sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ hành chính công

Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu trong nước và quốc tế theo 5 nhóm nội dung: vai trò của nhà nước, thể chế cung ứng DVHCC, chính sách DVCTT, quản lý chất lượng DVHCC và huy động khu vực ngoài nhà nước. Tác giả chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào việc nhà nước trực tiếp cung ứng DVC, tiếp cận dưới góc độ luật học hoặc đo lường chất lượng dịch vụ đơn lẻ. Luận án xác lập khoảng trống khoa học về một hệ thống lý luận hoàn chỉnh đối với QLNN trong cung ứng DVHCC và định hướng nghiên cứu chuyên sâu vào 6 trụ cột QLNN trên địa bàn ĐBSCL.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ hành chính công

Chương 2 phân tích các khái niệm cơ bản về DVC, DVHCC và phân biệt tính chất quyền lực hành chính - pháp lý của DVHCC so với dịch vụ sự nghiệp công và dịch vụ công ích.

Tác giả luận giải 06 nội dung cấu thành QLNN đối với cung ứng DVHCC ở chính quyền địa phương:

  1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, quy chuẩn, quy trình thủ tục hành chính.
  2. Thiết lập cấu trúc bộ máy (Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh, Bộ phận Một cửa cấp huyện, cấp xã).
  3. Đào tạo, bồi dưỡng, bố trí và đãi ngộ đội ngũ công chức tiếp nhận, giải quyết hồ sơ.
  4. Đầu tư trang thiết bị công nghệ thông tin, hạ tầng mạng và tích hợp cổng DVC trực tuyến.
  5. Kiểm soát chất lượng thông qua tiêu chuẩn ISO, đo lường sự hài lòng (SIPAS, PAR INDEX).
  6. Xây dựng cơ chế ủy quyền, đặt hàng, đấu thầu chuyển giao dịch vụ cho bưu chính công ích, tổ chức xã hội, hiệp hội nghề nghiệp.

Chương này cũng tổng hợp kinh nghiệm quản lý và cung ứng DVHCC tại một số quốc gia (như mô hình PS21 của Singapore, tiếp cận lấy công dân làm trung tâm của OECD) để rút ra các giá trị tham chiếu cho ĐBSCL.

Chương 3: Thực trạng quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ hành chính công ở Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3 phân tích các yếu tố đặc thù tác động đến quản lý và cung ứng DVHCC tại ĐBSCL: điều kiện địa hình sông nước chia cắt, kinh tế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn, xuất phát điểm hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng đều.

Dựa trên dữ liệu thứ cấp và kết quả khảo sát 578 phiếu tại 05 tỉnh/thành, chương 3 làm rõ bức tranh thực trạng qua các phát hiện chính:

  • Về thể chế và bộ máy: Các địa phương đã kiện toàn mô hình một cửa, một cửa liên thông; tuy nhiên, quy trình thủ tục trên một số lĩnh vực (đất đai, xây dựng, đầu tư) còn chồng chéo, chưa thực sự đơn giản hóa.
  • Về nhân sự: Tinh thần, thái độ phục vụ của công chức có chuyển biến; tuy nhiên, áp lực khối lượng hồ sơ lớn dẫn đến tình trạng quá tải cục bộ, tính chuyên nghiệp và kỹ năng số của một bộ phận công chức cấp xã còn hạn chế.
  • Về hiện đại hóa và dịch vụ công trực tuyến: Mặc dù 100% các tỉnh, thành phố đã triển khai Cổng DVC trực tuyến mức độ 3 và 4 (nay là dịch vụ công trực tuyến một phần và toàn trình), tỷ lệ hồ sơ phát sinh trực tuyến thực tế từ người dân còn rất thấp (Bảng 1). Người dân vẫn giữ thói quen nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan hành chính.
  • Về huy động tổ chức ngoài nhà nước: Việc phối hợp tiếp nhận và chuyển trả kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích (theo Quyết định 45/2016/QĐ-TTg) đã bước đầu thực hiện, nhưng việc chuyển giao toàn bộ quy trình cung ứng một số dịch vụ hành chính mang tính nghề nghiệp (cấp chứng chỉ hành nghề, giám định, công chứng/chứng thực) cho doanh nghiệp, tổ chức xã hội còn chậm và thiếu hành lang pháp lý cụ thể.
  • Đánh giá hạn chế: Luận án chỉ ra các nguyên nhân chủ yếu gồm: thể chế thiếu đồng bộ; nhận thức của người dân về dịch vụ số còn hạn chế; cơ chế kiểm soát chất lượng và tiếp nhận phản ánh kiến nghị chưa thực sự phát huy tối đa hiệu lực.

Chương 4: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ hành chính công ở Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 4 xác định bối cảnh tác động (Cách mạng Công nghiệp 4.0, yêu cầu xây dựng chính quyền điện tử - chính quyền số, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh) và đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện tương ứng 06 trụ cột:

  1. Hoàn thiện thể chế: Rà soát, chuẩn hóa danh mục thủ tục hành chính; cắt giảm thành phần hồ sơ và rút ngắn thời gian xử lý; ban hành khung pháp lý rõ ràng về chuyển giao DVHCC cho các tổ chức ngoài nhà nước.
  2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy: Nâng cao hiệu quả vận hành của Trung tâm Phục vụ hành chính công cấp tỉnh và Bộ phận Tiếp nhận và Trả kết quả cấp huyện, xã; đẩy mạnh cơ chế liên thông giữa các cơ quan chuyên môn.
  3. Phát triển nguồn nhân lực: Đổi mới công tác tuyển dụng, đào tạo kỹ năng số, văn hóa giao tiếp công vụ; xây dựng quy tắc ứng xử chuyên biệt khi tiếp xúc, hỗ trợ người già, người khuyết tật, đồng bào dân tộc thiểu số tại ĐBSCL.
  4. Hiện đại hóa công tác cung ứng: Hoàn thiện hạ tầng mạng, tích hợp cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; đơn giản hóa giao diện Cổng DVC để người dân dễ thao tác trên thiết bị di động.
  5. Huy động các tổ chức ngoài nhà nước: Phân cấp, ủy quyền các công đoạn tiếp nhận, hướng dẫn thủ tục, số hóa hồ sơ cho doanh nghiệp bưu chính, tổ chức xã hội; thí điểm chuyển giao việc sát hạch, cấp một số loại chứng chỉ hành nghề cho các hội nghề nghiệp đủ năng lực.
  6. Tăng cường kiểm soát chất lượng và phát huy vai trò người dân: Đa dạng hóa các kênh giám sát, đánh giá sự hài lòng (qua ứng dụng, quét mã QR, tổng đài); công khai kết quả xử lý phản ánh, kiến nghị của tổ chức, cá nhân.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận

  1. Xác lập khung 06 trụ cột nội dung QLNN đối với cung ứng DVHCC ở cấp địa phương: Luận án hệ thống hóa và luận giải sâu sắc 06 nội dung cấu thành gồm: thể chế, tổ chức bộ máy, nhân sự, cơ sở vật chất - kỹ thuật, quản lý chất lượng dịch vụ và huy động tổ chức ngoài nhà nước tham gia cung ứng. Khung phân tích này bổ sung cơ sở lý luận cho khoa học Quản lý công và Hành chính công tại Việt Nam.
  2. Làm rõ sự lệch pha giữa đầu tư hạ tầng và tỷ lệ sử dụng DVCTT: Luận án chứng minh trên cơ sở thực nghiệm tại ĐBSCL rằng: việc đầu tư phát triển hệ thống DVCTT kỹ thuật số không mặc nhiên dẫn đến mức độ sử dụng cao của công dân nếu không giải quyết đồng thời các rào cản về thói quen, kỹ năng số, giao diện người dùng và tính tiện ích thực tế.
  3. Phát triển lý luận về xã hội hóa và chuyển giao DVHCC: Luận án luận giải phương thức nhà nước thu hẹp phạm vi trực tiếp thực hiện bằng cách chuyển giao các nhiệm vụ hỗ trợ chuyên môn, nghiệp vụ, tiếp nhận - trả kết quả hoặc giao cho các hội nghề nghiệp cấp chứng chỉ chuyên môn, đồng thời duy trì chức năng kiểm tra, thanh tra và giám sát chất lượng.

Kiến nghị thực tiễn

  • Đề nghị Chính phủ và Bộ Nội vụ sớm ban hành hướng dẫn khung về danh mục các DVHCC được phép chuyển giao cho khu vực ngoài nhà nước đảm nhiệm.
  • Đề nghị UBND các tỉnh, thành phố vùng ĐBSCL tiếp tục rà soát cắt giảm thời gian xử lý thủ tục hành chính, đẩy mạnh số hóa quy trình và tăng cường đào tạo năng lực hỗ trợ công dân nộp hồ sơ trực tuyến tại cấp cơ sở.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung đánh giá dữ liệu thực trạng trong giai đoạn 2015–2020 tại 13 tỉnh, thành phố ĐBSCL; phương pháp điều tra xã hội học bằng bảng hỏi thực hiện với quy mô mẫu 600 phiếu tại 05 địa phương đại diện (Cần Thơ, Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Sóc Trăng) theo phương pháp phi xác suất thuận tiện có chủ đích, do đó khả năng đại diện hoàn toàn cho từng tiểu vùng địa bàn đặc thù sâu xa có thể chưa tuyệt đối.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Đánh giá tác động của tiến trình chuyển đổi số quốc gia và việc triển khai Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư (Đề án 06) đến công tác quản lý cung ứng DVHCC giai đoạn sau năm 2020.
    • Nghiên cứu cơ chế tài chính và trách nhiệm pháp lý chi tiết khi xã hội hóa toàn phần một số DVHCC đặc thù cho các tổ chức xã hội, doanh nghiệp.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp tài liệu tham khảo hệ thống về lý luận quản lý công, cấu trúc 06 trụ cột QLNN đối với DVHCC và phương pháp thiết kế công cụ khảo sát đánh giá chất lượng hành chính công tại địa phương.
  • Đối với cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho Bộ Nội vụ, Văn phòng Chính phủ và UBND các tỉnh, thành phố ĐBSCL trong việc xây dựng kế hoạch cải cách hành chính, nâng cao chỉ số SIPAS, PCI, PAR INDEX và tối ưu hóa hoạt động của Trung tâm Phục vụ hành chính công.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định 06 trụ cột chính trong nội dung QLNN đối với cung ứng DVHCC ở địa phương gồm những gì?

06 trụ cột gồm: (1) Xây dựng và hoàn thiện thể chế QLNN; (2) Tổ chức bộ máy quản lý và cung ứng; (3) Xây dựng và phát triển nhân sự quản lý và cung ứng; (4) Hiện đại hóa cơ sở vật chất cung ứng; (5) Quản lý chất lượng DVHCC; (6) Huy động sự tham gia của các cơ quan, tổ chức ngoài cơ quan hành chính nhà nước.

2. Dữ liệu khảo sát thực tế của luận án được thu thập từ những đối tượng nào và tại các địa phương nào?

Khảo sát được thực hiện tại 05 tỉnh, thành phố đại diện vùng ĐBSCL gồm: Đồng Tháp, An Giang, Bến Tre, Sóc Trăng và TP. Cần Thơ. Quy mô khảo sát thu về 578 phiếu hợp lệ, gồm 378 phiếu từ cán bộ, công chức (ở 3 cấp: tỉnh, huyện, xã) và 200 phiếu từ người dân, đại diện tổ chức, doanh nghiệp trực tiếp thực hiện thủ tục hành chính.

3. Nguyên nhân chủ yếu nào dẫn đến thực trạng tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến tại ĐBSCL còn thấp trong giai đoạn nghiên cứu?

Mặc dù hạ tầng kỹ thuật được đầu tư nhưng tỷ lệ phát sinh hồ sơ thấp do: quy trình trực tuyến còn phức tạp đối với người dân nông thôn; thói quen nộp hồ sơ giấy trực tiếp; kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin của người dân còn hạn chế; và các tiện ích hỗ trợ công dân thao tác trên môi trường mạng chưa thực sự thuận tiện.

4. Luận án đề xuất phương thức nào để huy động các tổ chức ngoài nhà nước tham gia cung ứng DVHCC?

Luận án đề xuất 3 phương thức: (1) Huy động tham gia các công đoạn mang tính chuyên môn, nghiệp vụ, hướng dẫn thủ tục, tiếp nhận và chuyển trả hồ sơ (như bưu chính công ích); (2) Chuyển giao các dịch vụ mang tính nghề nghiệp (cấp chứng chỉ hành nghề, đào tạo, giám định) cho doanh nghiệp hoặc tổ chức xã hội có đủ năng lực; (3) Cung ứng song song giữa cơ quan nhà nước và tổ chức ngoài nhà nước để tạo tính cạnh tranh và nâng cao chất lượng phục vụ.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Văn Lĩnh đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với cung ứng dịch vụ hành chính công thông qua khung phân tích 06 trụ cột cụ thể tại cấp địa phương. Trên cơ sở khảo sát thực nghiệm tại các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2015–2020, công trình đã làm rõ bức tranh thực trạng, chỉ ra những hạn chế về thể chế, nhân sự, hiệu quả dịch vụ công trực tuyến và mức độ xã hội hóa dịch vụ. Hệ thống giải pháp được đề xuất trong luận án mang tính khả thi, gắn liền với yêu cầu cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy và xây dựng nền hành chính phục vụ trong bối cảnh phát triển kinh tế - xã hội của vùng ĐBSCL đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030.