Chương 1 CƠ SỞLÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Khái niệm về nghèo + Khái niệm nghèo Vào thập niên 1970 và những năm 1980: khái niệm về nghèo là sự “thiếu hụt” so với một mức sống nhất định. Nghèo chỉ được tiếp cận theo nhu cầu cơ bản gồm: tiêu dùng, dịch vụ xã hội và nguồn lực. Theo nhà kinh tế học Mỹ Galbraith quan niệm rằng: “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng.
Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”. Ở Việt Nam, tập trung nhất vào các quan điểm, khái niệm, tiêu chí về chuẩn mực nghèo do Bộ LĐTB&XH ban hành. + Khái niệm về nghèo theo Bộ LĐTB&XH Nghèo: là tình trạng một bộ phận người dân có mức sống dưới mức trung bình so với mặt bằng chung của cộng đồng, chưa đáp ứng được những nhu cầu tối thiểu cần có của cuộc sống. Nghèo tuyệt đối: một người hoặc một hộ gia đình được xem là nghèo tuyệt đối khi mức thu nhập của họ hoặc hộ gia đình thấp hơn tiêu chuẩn tối thiểu (mức thu nhập tối thiểu) được quy định bởi một quốc gia hoặc một tổ chức quốc tế trong một thời gian nhất định.
Nghèo tương đối: là tình trạng mà một hoặc nhiều thành viên trong hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo theo những không gian và thời gian cụ thể. + Khái niệm nghèo đa chiều Đến nay, lý thuyết về NĐC đã được các quốc gia tiếp cận với nhiều khía cạnh khác nhau. Năm 1997, UNDP đưa ra khái niệm nghèo khổ tổng hợp: đó là sự thiếu cơ hội và sự lựa chọn bảo đảm các điều kiện để phát triển toàn diện con người: điều 7 kiện vật chất, giáo dục, tiếp cận y tế, chăm sóc sức khỏe. Đến năm 2003, tổ chức này đã phát triển khái niệm nghèo khổ đa chiều trên khía cạnh “quyền lợi” cơ bản của con người: quyền tự do, quyền bình đẳng, sự khoan dung.
Theo Jahan (2002), Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1990, là một đo lường khả năng tiếp cận trung bình đến phúc lợi. HDI bao gồm 3 chiều đo lường với các biến được lựa chọn là tuổi thọ (đại diện cho đời sống lâu dài), tỷ lệ người lớn biết chữ kết hợp với tỷ lệ học tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông (đại diện cho giáo dục) và GDP bình quân đầu người tính theo giá trị ngang bằng sức mua (PPP) (đại diện cho mức sống đầy đủ). Chỉ số HDI có tính chất “gộp” trong khi chỉ số HPI lại biểu thị sự thiếu hụt (Anand & Sen, 1997). HPI là một chỉ số tổng hợp về NĐC đo lường sự thiếu hụt trong tiếp cận đến các tính chất phát triển cơ bản của con người ở ba khía cạnh tuổi thọ, giáo dục và thu nhập như HDI nhưng cộng thêm khía cạnh tham gia vào hay bị loại trừ khỏi đời sống xã hội (Anand & Sen, 1997, trích bởi Jahan, 2002).
Xác định nghèo ở Việt Nam năm 2016 Chiều nghèo Chỉ số đo lường Mức độ thiếu hụt Cơ sở pháp lý - Hiến pháp 2013 NQ Hộ gia đình có ít nhất 1 15/NQ-TW Một số vấn đề 1.1 Trình độ thành viên đủ 15 tuổi sinh chính sách xã hội giai đoạn giáo dục của từ năm 1986 trở lại không 2012-2020. người lớn tốt nghiệp trung học cơ sở - Nghị quyết số 41/2000/QH và hiện không đi học (bổ sung bởi Nghị định số 1) Giáo dục 88/2001/NĐ-CP) - Hiến pháp 2013. Hộ gia đình có ít nhất 1 - Luật Giáo dục 2005. - Luật bảo vệ, chăm sóc và 1.2 Tình trạng đi trẻ em trong độ tuổi đi giáo dục trẻ em.
học của trẻ em học (5 - 14 tuổi) hiện - NQ 15/NQ-TW Một số không đi học vấn đề chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.1 Tiếp cận các Hộ gia đình có người bị - Hiến pháp 2013. 2) Y tế ốm đau nhưng không đi - Luật Khám chữa bệnh dịch vụ y tế khám chữa bệnh (ốm đau 2011. 8 được xác định là bị bệnh/ chấn thương nặng đến mức phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia được các hoạt động bình thường) Hộ gia đình có ít nhất 1 - Hiến pháp 2013. - Luật bảo hiểm y tế 2014.
thành viên từ 6 tuổi trở 2.2 Bảo hiểm y tế - NQ 15/NQ-TW Một số lên hiện tại không có bảo vấn đề chính sách xã hội hiểm y tế giai đoạn 2012-2020. Hộ gia đình đang ở trong nhà thiếu kiên cố hoặc - Luật Nhà ở 2014.1 Chất lượng nhà đơn sơ - NQ 15/NQ-TW Một số nhà ở (Nhà ở chia thành 4 cấp độ: vấn đề chính sách xã hội nhà kiên cố, bán kiên cố, nhà giai đoạn 2012-2020. thiếu kiên cố, nhà đơn sơ) 3) Nhà ở - Luật Nhà ở 2014.2 Diện tích Diện tích nhà ở bình quân - Quyết định 2127/QĐ-Ttg của Thủ tướng Chính phủ Phê nhà ở bình đầu người của hộ gia đình duyệt Chiến lược phát triển quân đầu người nhỏ hơn 8m2 nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 4.1 Nguồn nước Hộ gia đình không được NQ 15/NQ-TW Một số vấn tiếp cận nguồn nước hợp đề chính sách xã hội giai sinh hoạt vệ sinh đoạn 2012-2020. 4) Điều kiện sống Hộ gia đình không sử NQ 15/NQ-TW Một số vấn 4.
Hố xí/nhà dụng hố xí/nhà tiêu hợp đề chính sách xã hội giai vệ sinh vệ sinh đoạn 2012-2020. Hộ gia đình không có thành Luật Viễn thông 2009.1 Sử dụng dịch NQ 15/NQ-TW Một số vấn viên nào sử dụng thuê bao thông tin vụ viễn thông đề chính sách xã hội giai điện thoại và internet đoạn 2012-2020. 9 Hộ gia đình không có tài - Luật Thông tin Truyền sản nào trong số các tài 5.2 Tài sản phục thông 2015. sản: Tivi, đài, máy vi vụ tiếp cận - NQ 15/NQ-TW Một số tính; và không nghe được thông tin vấn đề chính sách xã hội hệ thống loa đài truyền giai đoạn 2012-2020.
thanh xã/thôn Nguồn: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội + Khái niệm Giảm nghèo Giảm nghèo chính là làm thay đổi, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần lên mức cao hơn cho bộ phận dân cư nghèo, từng bước vươn lên thoát nghèo. Nói một cách khác, giảm nghèo là một quá trình, 1 giai đoạn thực hiện các biện pháp, chính sách hỗ trợ nhằm làm thay đổi mức sống từ mức thấp lên mức cao hơn cho một bộ phận dân cư nghèo. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là làm thay đổi điều kiện sống, nâng cao chất lượng đời sống về mọi mặt từ việc ít có cơ hội lựa chọn sang nhiều cơ hội lựa chọn. Ở góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện hỗ trợ các thành viên của hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo có khả năng tiếp cận với các nguồn lực một cách nhanh nhất, từ đó tạo nên nội lực bền vững của chính người nghèo giúp họ từng bước thoát nghèo.
Bền vững là không dễ thay đổi, là duy trì lâu dài, là nền tảng vững chắc [16]. Như vậy nên hiểu bền vững là nền tảng vững chắc đối với kết quả giảm nghèo. + Khái niệm Giảm nghèo bền vững Nếu hiểu bền vững với nghĩa là duy trì lâu dài, không dễ thay đổi thì giảm nghèo bền vững được hiểu là tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập trên chuẩn nghèo đó ngay cả khi gặp các cú sốc hay rủi ro [11, tr. Giảm nghèo bền vững không đơn thuần chỉ là giúp hộ nghèo đủ cơm ăn áo mặc mà còn là thực hiện và duy trì các biện pháp giảm nghèo, trong đó tập trung vào các 10 hoạt động hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có tư liệu và phương tiện để sản xuất, dịch vụ, bảo đảm an ninh lương thực ở cấp hộ gia đình, nâng cao thu nhập để tự vượt qua nghèo đói; tạo cơ hội, đảm bảo để họ tiếp cận bình đẳng, đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản, đáp ứng nhu cầu sống tối thiểu về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin; giảm thiểu rủi ro do thiên tai, bão lụt và tác động tiêu cực của quá trình cải cách kinh tế, bảo đảm thoát nghèo bền vững hay không tái nghèo.
+ Khái niệm quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo bền vững Khái niệm quản lý nhà nước chỉ xuất hiện và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Quản lý nhà nước có các đặc điểm sau đây: Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, công chức trong bộ máy nhà nước được trao quyền lực công gồm: quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia. Quản lý nhà nước là các chủ thể thực hiện công tác quản lý các đối tượng quản lý nhà nước trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao… trên phạm vi lãnh thổ một quốc gia.
Như vậy, QLNN về công tác giảm nghèo bền vững là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, là sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp về công tác giảm nghèo bền vững nhằm góp phân nâng cao tình trạng dân cư đạt được mức độ thỏa mãn những nhu cầu cơ bản hay mức thu nhập cao hơn chuẩn nghèo và duy trì sự ổn định và phát triển bền vững trong xã hội. Nội dung của quản lý nhà nước về công tác giảm nghèo bền vững 1. Triển khai thực hiện các chính sách về giảm nghèo Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các chiến lược, chính sách, chương trình, dự án, kế hoạch, mục tiêu về giảm nghèo bền vững. Trên cơ sở khung chương trình, kế hoạch quốc gia, các cấp chính quyền, các cơ quan đoàn thể tiến hành huy động các nguồn lực, sắp xếp, tổ chức bộ máy để thực hiện tốt hoạt động giảm nghèo.
Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật QLNN về giảm nghèo bền vững.