Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỢP TÁC QUỐC TẾ 1. Hoạt động hợp tác quốc tế 1. Khái niệm hợp tác quốc tế và các khái niệm liên quan Trong quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế, bất cứ quốc gia nào cũng chịu tác động của các QHQT. Đó là một xu thế khách quan, đòi hỏi các quốc gia, các vùng lãnh thổ cùng tham gia phải tăng cường HTQT.
HTQT có sự phụ thuộc lẫn nhau cũng vì mục đích đôi bên cùng có lợi. Nội hàm của khái niệm Hợp tác quốc tế gồm khái niệm Hợp tác nghĩa là "cùng chung sức giúp đỡ nhau trong một công việc, một lĩnh vực nào đó nhằm một mục đích chung" [33, tr.466] và Quốc tế chỉ "các nước trên thế giới trong quan hệ với nhau, thuộc về quan hệ giữa các nước trên thế giới" [33, tr. Tác giả Hoàng Khắc Nam cho rằng: hợp tác vừa là cách thức, vừa là mục đích mà nhân loại phấn đấu để đạt được. Nói về nguồn gốc quá trình hợp tác, tác giả Hoàng Khắc Nam cho rằng: “Hợp tác là hình thức đã tồn tại ngay từ đầu lịch sử loài người, cùng với sự hình thành các cộng đồng sơ khai như bầy đàn, công xã, thị tộc, bộ lạc, liên minh bộ lạc.
Khi xuất hiện các chủ thể QHQT tức là khi quốc gia và dân tộc hình thành, hợp tác đã trở thành HTQT”[23, tr. Trong quá trình hình thành và phát triển của mỗi quốc gia, HTQT là một hiện tượng xuyên lịch sử. Cho đến nay, HTQT đã trở thành xu thế lớn trong QHQT mà các quốc gia trên thế giới cùng tham gia. HTQT là một hình thức tương tác trong QHQT.
Về mặt hành vi, đó là sự tương tác hòa bình giữa các chủ thể QHQT. Về mặt mục đích, hợp tác là cách thức phối hợp nhằm thực hiện các mục đích chung, lợi ích chung. Sự phối hợp đa dạng từ nhân lực, vật lực đến tài lực. Về mặt kết quả, HTQT đem lại kết quả như nhau cho các bên tham gia hợp tác.
Dựa vào các đặc trưng trên, tác giả Hoàng Khắc Nam đưa ra khái niệm chung cho HTQT như Luan van 17 sau: “Hợp tác quốc tế là sự phối hợp hòa bình giữa các chủ thể quan hệ quốc tế nhằm thực hiện các mục đích chung” [23, tr. Gần nghĩa với khái niệm Hợp tác quốc tế là khái niệm Quan hệ quốc tế. Từ điển tiếng Việt định nghĩa Quan hệ là "sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi" [33, tr. Như vậy nếu hợp tác quốc tế xác định cụ thể các đối tác phải cùng chung nhau phối hợp trong một công việc vì mục đích chung thì quan hệ quốc tế chỉ đơn thuần là sự liên hệ giữa các đối tác với nhau.
Nhưng dù khác nhau về nội hàm nghĩa khái niệm, quan hệ quốc tế và hợp tác quốc tế đều chỉ một loại quan hệ của chủ thể với các đối tác bên ngoài đó là quan hệ đối ngoại hay ngoại giao. Từ điển tiếng Việt định nghĩa Ngoại giao là "sự giao thiệp với nước ngoài để bảo vệ quyền lợi quốc gia mình và để góp phần giải quyết những vấn đề quốc tế chung" [33, tr.683] còn đối ngoại là "nói về đường lối, chính sách, sự giao thiệp của nhà nước, của một tổ chức đối với nước ngoài, bên ngoài" [33, tr. Đối ngoại và ngoại giao là hai thuật ngữ thường xuất hiện cùng nhau. Trong nhiều trường hợp, đối ngoại được nhắc đến như là một thuật ngữ có nội hàm rộng hơn so với ngoại giao.
Đối ngoại là thuật ngữ chỉ những hoạt động hướng ngoại nói chung, còn ngoại giao có nghĩa hẹp hơn, chỉ những hoạt động cụ thể trong lĩnh vực QHQT. Tuy nhiên chúng ta có thể thấy, khi chủ thể là nhà nước thì hoạt động đối ngoại hay hoạt động ngoại giao đều nhằm thiết lập mối quan hệ mang tính quốc gia với các nước trên thế gới với mục tiêu đảm bảo quyền lợi quốc gia. Lúc này, đối ngoại và ngoại giao có nghĩa tương đương nhau. Từ các quan điểm, khái niệm được trình bày ở trên, tác giả cho rằng: Hợp tác quốc tế là sự phối hợp, tương tác một cách hòa bình giữa các chủ thể quốc tế nhằm đem lại những lợi ích cho các bên cùng tham gia.
Trong phạm vi một quốc gia, Hợp tác quốc tế là hoạt động thuộc về hoạt động đối ngoại của quốc gia đó. Phân loại hoạt động hợp tác quốc tế Có nhiều cách phân loại HTQT bao gồm: Một là, phân loại dựa trên các lĩnh vực lớn diễn ra những hoạt động chủ yếu của quốc gia như: kinh tế, chính trị, văn hóa- xã hội, quân sự… Trong từng lĩnh vực lớn, có thể phân chi tiết hơn nữa theo những lĩnh vực chuyên Luan van 18 môn như: trong hợp tác văn hóa có thể bao gồm: hợp tác du lịch, hợp tác biểu diễn nghệ thuật, hợp tác xuất bản phẩm, hợp tác đào tạo năng khiếu,… Hai là, phân loại dựa theo qui mô không gian. Cách phân loại này bao gồm hợp tác khu vực và hợp tác toàn cầu. Hợp tác khu vực là sự hợp tác giữa các quốc gia trong một thể chế khu vực trên phạm vi không gian địa lý nào đó (như: hợp tác giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á).
Hợp tác toàn cầu là sự tham gia hợp tác của các nước trên qui mô toàn cầu như tham gia vào các thể chế hợp tác toàn cầu hay phối hợp nhằm giải quyết các vấn đề toàn cầu. Đối với hợp tác khu vực, người ta còn sử dụng các thuật ngữ hợp tác liên khu vực để chỉ hợp tác giữa các tổ chức có qui mô địa lý vượt khỏi khuôn khổ khu vực truyền thống (như hợp tác giữa các nước Châu Á- Thái Bình Dương). Hợp tác tiểu khu vực là hợp tác giữa một số nước bên trong khu vực nào đó (như hợp tác giữa các nước tiểu vùng Sông Mekong). Ba là, phân loại HTQT căn cứ trên số lượng chủ thể tham gia.
Theo đó, có hai loại HTQT là: hợp tác song phương và hợp tác đa phương. Hợp tác song phương là hợp tác giữa hai chủ thể. Hợp tác đa phương là hợp tác có sự tham gia của ba chủ thể trở lên. Bốn là, phân loại theo chủ thể tham gia HTQT.
Thực tế cho thấy, sự tương tác giữa các chủ thể làm lên quan hệ. Trong QHQT, các chủ thể ở đây được chia thành ba loại, bao gồm: chủ thể quốc gia, chủ thể phi quốc gia và chủ thể dưới quốc gia. Quốc gia là một thực thể pháp lý quốc tế và phải được xác định bởi một cộng đồng dân cư thường xuyên, một lãnh thổ xác định và một chính phủ có khả năng duy trì sự kiểm soát hiệu quả trên lãnh thổ của nó và tiến hành QHQT với quốc gia khác. Chủ thể phi quốc gia là những chủ thể không phải là quốc gia.
Đây là loại chủ thể có sự độc lập tương đối với quốc gia và có quy mô hoạt động vượt khỏi biên giới quốc gia như: các tổ chức phi chính phủ, công ty đa quốc gia, một số nhóm chính trị - xã hội… Chủ thể dưới Luan van 19 quốc gia là chủ thể hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia nhưng cũng có sự độc lập tương đối và đóng vai trò nhất định, ví dụ như: chính quyền địa phương,… chủ thể này hoạt động phụ thuộc khá nhiều vào quốc gia. Vai trò của hợp tác quốc tế Hiện nay, ở nhiều nước trên thế giới, HTQT đang mang lại lợi ích về chính trị, văn hoá, kinh tế và xã hội … HTQT muốn có hiệu quả cao phải rất coi trọng, phối hợp, đồng bộ các hoạt động đa dạng, phong phú, và liên tục xử lý các quan hệ nảy sinh giữa các bên. Về chính trị, ý nghĩa chính trị của HTQT được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. HTQT làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau.
HTQT đóng vai trò như một nhân tố củng cố hoà bình, đẩy mạnh giao lưu quốc tế, giúp cho nhân dân các nước hiểu biết thêm về đất nước, con người, lịch sử truyền thống dân tộc, qua đó tranh thủ sự đoàn kết giúp đỡ của các nước. Về kinh tế, HTQT sẽ tăng nguồn vốn đầu tư, mở rộng tiêu thụ sản phẩm, tăng thu ngân sách cho các địa phương từ các cơ sở kinh tế trực thuộc quản lý trực tiếp của các địa phương. HTQT thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác (giao thông vận tải, tài chính, bưu điện, công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…) phát triển. Đối với nền sản xuất xã hội, HTQT còn mở ra thị trường tiêu thụ hàng hoá.
Mặt khác, HTQT tạo ra các điều kiện để các đối tác nước ngoài tìm hiểu thị trường, ký kết hợp đồng về sản xuất kinh doanh trong nước, tận dụng các cơ sở vật chất kỹ thuật của các ngành kinh tế khác. HTQT quốc tế làm mở rộng thị trường lao động, đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả của sản xuất xã hội. Hoạt động HTQT góp phần giải quyết vấn đề lao động và việc làm, làm giảm tỷ lệ thất nghiệp. Về phương diện xã hội, HTQT là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo hữu hiệu về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, giới thiệu về con người, phong tục, tập quán.
Thông qua HTQT, văn hoá được trao đổi và nâng cao. Thông qua hoạt động HTQT, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với Luan van 20 những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc. Từ đó hấp thụ những yếu tố văn minh của nhân loại nhằm nâng cao dân trí, tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành những phẩm chất đạo đức tốt đẹp trong nhân dân… Điều này quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội. Ngoài ra, việc HTQT còn có ý nghĩa lớn đối với việc khai thác và bảo tồn các di sản văn hoá của dân tộc.