CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỊA PHƯƠNG VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH BÁN LẺ XĂNG DẦU TRÊN ĐỊA BÀN ĐỊA PHƯƠNG 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM VÀ LÝ LUẬN CƠ SỞ 1. Lý luận chung về quản lý Nhà nước địa phương 1. Khái niệm và vai trò của quản lý Nhà nước Nhà nước là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện các chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị.
Mọi Nhà nước sinh ra đều nhằm nắm giữ quyền lực chính trị, quyền lực kinh tế để điều tiết mọi quan hệ kinh tế - xã hội để phục vụ cho lợi ích của giai cấp cầm quyền. Để thực thi quyền lực, Nhà nước phải tiến hành quản lý mọi lĩnh vực của xã hội. Thuật ngữ “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Theo quan niệm của C.MÁC: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo một quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất, sự vận động này khác với sự vận động của các cơ quan độc lập của cơ thể đó.
Một nhạc công tự điều khiển mình, nhưng một dàn nhạc phải có nhạc trưởng”.132) Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi 10 hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý. Theo Giáo trình quản lý hành chính Nhà nước: “Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”.5) Khái niệm quản lý Nhà nước được hiểu theo 2 nghĩa. Theo nghĩa rộng : Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy Nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực Nhà nước trên các phương diện lập pháp, hành pháp và tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý Nhà nước được đặt trong cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ " Theo nghĩa hẹp, Quản lý Nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức,điều hành của hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý Nhà nước.
Đồng thời, các cơ quan Nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành,tính chất hành chính Nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình.Quản lý Nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính Nhà nước. Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý Nhà nước được xem là một hoạt động chức năng của Nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là hoạt động chức năng đặc biệt quản lý Nhà nước được hiểu theo hai nghĩa. 11 Ngày nay, không một quốc gia nào sử dụng cơ chế kinh tế thị trường mà không có sự quản lý, điều tiết của Nhà nước bất luận đó là Nhà nước tư bản chủ nghĩa hay Nhà nước XHCN.
Về vai trò của quản lý Nhà nước, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân nên với vai trò chủ thể quản lý của nền kinh tế, Nhà nước phải thực thi quyền lực của nhân dân, bảo vệ lợi ích của quốc gia, lợi ích của nhân dân đồng thời cũng là cơ quan đại diện cho nhân dân làm chủ sở hữu mọi tài sản thuộc sở hữu toàn dân. Nhà nước xây dựng mô hình kinh tế thị trường và vận hành nền kinh tế bằng cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, định hướng xã hội chủ nghĩa. Hiện nay, nền kinh tế thị trường của ta còn chưa đầy đủ nên vai trò quản lý Nhà nước rất quan trọng thể hiện qua các mặt như : Nhà nước phải tạo điều kiện thúc đẩy thị trường ra đời, đồng thời điều tiết thị trường để nền kinh tế ổn định, phát triển; Nhà nước phải hạn chế khuyết tật của cơ chế thị trường và khuyết điểm yếu kém của chính bộ máy Nhà nước khi bộ máy mới chuyển sang quản lý nền kinh tế thị trường; Nhà nước phải vận hành nền kinh tế bằng cơ chế quản lý mới, định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với bản chất Nhà nước ta. Mục đích, nguyên tắc và yêu cầu quản lý Nhà nước Quản lý Nhà nước suy cho cùng chính là việc các cấp chính quyền sử dụng các công cụ của mình để điều hành những hoạt động xã hội, sao cho đạt được hiệu quả cao nhất, nhằm đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân trên cơ sở kinh tế phát triển với tốc độ nhanh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, cuối cùng là bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị.
Muốn đạt được điều này các cấp chính quyền cần phải đưa ra những chủ trương chính sách và quyết định đúng đắn trong từng thời điểm và thời kỳ nhất định, đảm bảo tính hợp lý và sáng suốt. 12 Hệ thống các nguyên tắc quản lý Nhà nước bao gồm: Nhóm những nguyên tắc chính trị-xã hội 1. Nguyên tắc Ðảng lãnh đạo trong quản lý Nhà nước; 2. Nguyên tắc nhân dân tham gia vào quản lý Nhà nước; 3.
Nguyên tắc tập trung dân chủ; 4. Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc; 5. Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa; Nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật 6. Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo lãnh thổ; 7.
Nguyên tắc quản lý theo ngành kết hợp với quản lý theo chức năng. Phân định chức năng quản lý Nhà nước về kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh. Phân cấp quản lý Nhà nước và thẩm quyền quản lý Nhà nước địa phương Hiện nay, có một số quan niệm khác nhau xung quanh khái niệm “phân cấp”. Theo một số tác giả, phân cấp chính là phân quyền giữa trung ương và địa phương.
Phân cấp là phân ra, chia thành các cấp, các hạng. Phân cấp có sự chuyển giao quyền lực quản lý xuống các cấp dưới để thực hiện cho sát dân và sát tình hình thực tiễn, đồng thời, để giảm bớt khối lượng cho cấp trên khỏi phải trực tiếp giải quyết những việc sự vụ. Việc phân cấp phải gắn trách nhiệm với quyền hạn rõ ràng và bảo đảm tính thống nhất từ trung ương đến cơ sở. Có quan niệm khác cho rằng, phân cấp có thể theo hai hướng: một hướng nằm ngang là sự phân chia căn cứ vào sự khác nhau của các công việc của một cấp; hướng nằm dọc (thẳng đứng) là sự phân chia theo cơ cấu thứ bậc công việc giữa các cấp khác nhau.
13 Hiện nay, căn cứ vào cách phân chia đơn vị hành chính - lãnh thổ mà ở Việt Nam hình thành các cấp chính quyền: trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Phân cấp quản lý Nhà nước, trước hết được hiểu là phân cấp giữa trung ương với chính quyền cấp tỉnh; đồng thời, còn bao hàm cả phân cấp giữa các cấp chính quyền địa phương với nhau. Theo các văn kiện của Đảng, phân cấp được tiến hành theo hướng “phân cấp rõ hơn cho địa phương, kết hợp chặt chẽ quản lý ngành và quản lý lãnh thổ và trên cơ sở nguyên tắc “chính quyền trung ương quản lý tập trung một số lĩnh vực theo ngành dọc được xác định từ yêu cầu thực tế. Đối với một số lĩnh vực khác, trung ương trực tiếp quản lý một phần, còn một phần phân cấp cho địa phương quản lý”.
Cũng với tinh thần đó mà hiện nay, phân cấp được hiểu là việc chuyển giao nhiệm vụ, thẩm quyền từ cơ quan quản lý Nhà nước cấp trên xuống cơ quan quản lý cấp dưới nhằm đạt mục tiêu chung là nâng cao hiệu quả quản lý. Trên cơ sở những lập luận đó, có thể đưa ra khái niệm về phân cấp quản lý Nhà nước như sau: Phân cấp quản lý Nhà nước là sự phân định thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cấp chính quyền trên cơ sở bảo đảm sự phù hợp giữa khối lượng và tính chất thẩm quyền với năng lực và điều kiện thực tế của từng cấp nhằm tăng cường chất lượng, hiệu lực và hiệu quả của hoạt động quản lý Nhà nước. Thẩm quyền của chính quyền địa phương Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương các cấp được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan Nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương theo hình thức phân quyền, phân cấp.