CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH XANH 1. Lý luận chung về tài chính xanh 1. Khái niệm tài chính xanh UNEP, 2016 định nghĩa tài chính xanh như sau: “Tài chính xanh liên quan đến việc đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ tài chính cung cấp bởi các định chế tài chính hướng tới sự phát triển của quốc gia”. Theo đó, tài chính xanh là những hỗ trợ về tài chính hướng đến tăng trưởng xanh thông qua việc cắt giảm khí phát thải nhà kính và ô nhiễm môi trường một cách có ý nghĩa.
Tài chính xanh là nguyên lý của tín dụng xanh, bao gồm các biện pháp quản lý, trong đó yêu cầu các ngân hàng thương mại và các định chế tài chính khác thực hiện các nghiên cứu và phát triển để tạo ra các sản phẩm đối phó với tình trạng ô nhiễm môi trường, bảo vệ và khắc phục môi trường sinh thái. Tài chính xanh khuyến khích phát triển và sử dụng các nguồn năng lượng mới, sản xuất các sản phẩm xanh, sản xuất nông nghiệp sinh thái thông qua cho vay ưu đãi lãi suất đối với các doanh nghiệp; đồng thời giới hạn các dự án mới của các doanh nghiệp gây ô nhiễm cùng với việc áp dụng lãi suất cao. Theo Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), khái niệm “tài chính xanh” là: “cung cấp tài chính nhằm tạo ra một trái đất tồn tại bền vững, bao hàm các dịch vụ tài chính, định chế tài chính, sáng kiến và chính sách ở tầm quốc gia, các sản phẩm tài chính (trái phiếu, cổ phiếu, bảo hiểm…) giúp dòng tiền đổ vào các dự án kinh tế nhằm cải thiện môi trường, giảm tác động của biến đổi khí hậu và nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên”. Nó cũng bao gồm việc bắt buộc các doanh nghiệp phải công bố mình đã làm gì với môi trường, công khai mức độ tác động đến môi trường từ các dự án kinh doanh của doanh nghiệp.
Như vậy, có thể hiểu, tài chính xanh về bản chất vẫn là hoạt động cung cấp dòng tiền phục vụ nhu cầu phát triển của nền kinh tế, tuy nhiên thay vì hướng tới mục tiêu sinh lời như tài chính thông thường, tài chính xanh sẽ hướng tới một sự phát triển bền vững bằng cách tài trợ cho các dự án đảm bảo được sự cân bằng giữa hai yếu tố: bảo vệ môi trường và lợi nhuận. Đặc điểm của tài chính xanh Tài chính xanh có thể được hiểu là một tập hợp đầy đủ các hình thức tài trợ cho công nghệ, dự án, ngành công nghiệp hay doanh nghiệp thân thiện với môi trường. Đặc điểm cơ bản tài chính xanh là luôn chú trọng tới các giá trị của môi trường thiên nhiên và những nguồn lực tự nhiên. Tài chính xanh luôn tìm kiếm cách thức cải thiện phúc lợi và công bằng xã hội, đồng thời giảm bớt những rủi ro đối với môi trường và tăng cường sự cân bằng sinh thái.
Về cấu trúc chung thì mô hình tài chính xanh cũng không khác biệt quá lớn so với mô hình tài chính thông thường. Sự khác biệt nằm trong đặc điểm của các thành phần tham gia vào quá trình luân chuyển vốn, cụ thể trong các hoạt động như sau (xem Hình 1.1): Huy động nguồn vốn xanh: Phát triển và ứng dụng các ngành công nghiệp và công nghệ xanh ở tất cả các mức độ đòi hỏi nguồn lực lớn được huy động từ nhiều nguồn khác nhau. Nhìn chung có ba nguồn vốn tài trợ chủ yếu cho tài chính xanh là: (1) Nguồn vốn công cộng trong nước là nguồn vốn tài trợ trực tiếp từ chính phủ và các tổ chức tài chính phát triển quốc gia; (2) Nguồn vốn công cộng nước ngoài là nguồn vốn từ các tổ chức, định chế quốc tế hay các ngân hàng phát triển song phương và đa phương; (3) Nguồn vốn khu vực tư nhân là nguồn vốn của khu vực tư nhân trong nước và quốc tế. Sử dụng nguồn vốn xanh: Nguồn vốn xanh được sử dụng cho hai hoạt động chính là tài trợ đầu tư xanh và tài trợ xây dựng chính sách xanh.
Tài trợ đầu tư xanh là hoạt động sử dụng nguồn vốn xanh huy động được của cả hai khu vực tư nhân và nhà nước để đầu tư vào trong các lĩnh vực (i) cung cấp hàng hóa và dịch vụ môi trường như xử lý nước thải, bảo vệ sự đa dạng của hệ sinh thái và cảnh quan thiên nhiên; (ii) ngăn ngừa, giảm hoặc đền bù các tổn hại tới môi trường hoặc khí hậu, ví dụ như tiết kiệm năng lượng hay sử dụng năng lượng tái tạo. Trong khi đó, tài trợ chính sách xanh là việc sử dụng nguồn vốn xanh huy động được để tài trợ cho các chính sách xanh của nhà nước bao gồm cả những chi phí thực thi chính sách và tài trợ cho các đối tượng hướng tới của chính sách. Mục tiêu của các chính sách này là 6 khuyến khích triển khai các sáng kiến và dự án về môi trường hoặc liên quan tới việc điều chỉnh hoặc giảm bớt tác động tiêu cực tới môi trường. Hình thành thị trường tài chính xanh: Kênh tài chính trực tiếp để dẫn nguồn vốn xanh là thị trường tài chính xanh.
Xây dựng thị trường tài chính xanh là quá trình xây dựng những chính sách, quy định pháp luật và thiết lập cơ sở hạ tầng phù hợp tạo điều kiện thuận lợi cho việc luân chuyển vốn vào các hoạt động đầu tư xanh. Trong cơ cấu thị trường tài chính bao gồm một số thành phần hỗ trợ như thị trường trái phiếu xanh, thị trường cổ phiếu xanh,. Hình thành trung gian tài chính xanh: Trung gian tài chính xanh là kênh tài chính gián tiếp để dẫn nguồn vốn xanh luân chuyển trong nền kinh tế. Tương tự như việc xây dựng thị trường tài chính xanh, quá trình xây dựng các trung gian tài chính xanh cũng bao gồm quá trình xây dựng những chính sách, các quy định luật pháp và thiết lập cơ sở hạ tầng phù hợp, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các trung gian tài chính xanh như ngân hàng xanh, quỹ xanh, các khoản vay xanh,.
Trung gian tài chính xanh Vốn (kênh tài chính gián tiếp) Vốn Huy động nguồn vốn Sử dụng nguồn vốn xanh xanh Vốn Thị trường tài chính xanh Vốn (kênh tài chính trực tiếp) Hình 1.1 Mô hình hệ thống tài chính xanh Nguồn: Trần Thị Thanh Tú & Nguyến Thị Hương Liên (2017) 7 1. Vai trò của tài chính xanh 1.1 Xây dựng nền kinh tế xanh Một nền kinh tế xanh được đặc trưng bởi sự tăng trưởng bền vững của các hợp phần kinh tế có khả năng duy trì và gia tăng nguồn vốn tự nhiên của Trái đất. Các hợp phần này bao gồm năng lượng tái tạo, giao thông ít phát thải cacbon, công nghệ sạch, hệ thống quản lý chất thải tiên tiến, tiết kiệm năng lượng, nông-lâm-ngư nghiệp bền vững. Hiểu một cách đơn giản, kinh tế xanh là nền kinh tế ít phát thải cacbon, tiết kiệm tài nguyên, tạo ra việc làm và công bằng xã hội.
Tổ chức Sáng kiến Tăng trưởng Xanh của Liên Hợp Quốc (GEI) quan niệm, xây dựng nền kinh tế xanh là quá trình tái cơ cấu lại hoạt động kinh tế và cơ sở hạ tầng để thu được kết quả tốt hơn từ các khoản đầu tư cho tài nguyên, nhân lực và tài chính, đồng thời giảm phát thải khí nhà kính, khai thác và sử dụng ít tài nguyên thiên nhiên hơn, tạo ra ít chất thải hơn và giảm sự mất công bằng trong xã hội. Tuy vậy, mô hình kinh tế xanh cũng giống như tất cả các mô hình kinh tế khác từ trước tới nay, rõ ràng đều có nhu cầu về vốn để phục vụ cho sự phát triển. Khi đó, hệ thống tài chính – đóng vai trò điều phối nguồn lực vốn – là một cấu phần quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ nền kinh tế nào. Từ đó, khái niệm tài chính xanh ra đời, trở thành một trong hai hạt nhân chính (bên cạnh yếu tố môi trường) trong sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế xanh.
Lúc này, sự dịch chuyển của các dòng vốn tập trung vào các hoạt động trong nền kinh tế xanh tạo ra lợi nhuận hoặc giá trị có ích lợi, hướng đến phát triển cuộc sống của cộng đồng xã hội con người và thân thiện với môi trường.2 Giảm thiểu sự biến đổi khí hậu Theo tính toán, chỉ cần đầu tư khoảng 1.25% GDP toàn cầu vào việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong các ngành và phát triển năng lượng tái tạo, bao gồm cả nhiên liệu sinh học thế hệ mới, mức độ tiêu thụ năng lượng trên thế giới có thể giảm đi 36% vào năm 2030 và lượng khí CO2 thải ra hàng năm sẽ giảm từ 30.6 tỷ tấn năm 2010 xuống 20 tỷ tấn vào năm 2050. Thêm vào đó, nhờ vào nông nghiệp xanh, kịch bản kinh tế xanh ước tính có thể giảm nồng độ khí thải nhà kính xuống 8 450ppm vào năm 2050, một mức độ được cho là hợp lý và đủ để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở ngưỡng 2oC.3 Duy trì và tăng cường vốn tự nhiên Phát triển hệ thống tài chính xanh làm gia tăng các sản phẩm tài chính, tín dụng thúc đẩy kinh tế phát triển theo những mô hình tiêu thụ và sản xuất bền vững, đảm bảo nguồn vốn tự nhiên tiếp tục cung cấp những nguồn lực và dịch vụ sinh thái mà đời sống người dân phụ thuộc vào, cho thế hệ hiện nay cũng như cho những thế hệ mai sau. Các sáng kiến được các cơ quan Liên Hợp Quốc thúc đẩy hướng tới nền kinh tế xanh như: nông nghiệp thông minh với khí hậu (FAO phát động), đầu tư công nghệ sạch (WB), việc làm xanh (ILO), kinh tế xanh (UNEP), giáo dục vì sự phát triển bền vững (UNESCO), xanh hóa khu vực y tế (WHO), thị trường công nghệ xanh (WIPO), tiêu chuẩn công nghệ thông tin xanh (ITU), giải pháp năng lượng xanh (UN WTO), sản xuất sạch hơn và hiệu quả sử dụng tài nguyên (UNEP và UNIDO), các thành phố và biến đổi khí hậu (UN-HABITAT), tái chế tàu biển (IMO)… đang thu được nhiều kết quả tốt đẹp. Theo tính toán của UNEP, năm 2009, cộng đồng EU và Hoa Kỳ đã tạo ra 2-3.5 triệu việc làm khi xây dựng các tòa nhà xanh, Trung Quốc tạo nên 10 triệu việc làm trong lĩnh vực tái chế và năng lượng tái tạo, với doanh thu 17 tỷ USD/năm.
Ngân hàng Thế giới đánh giá nhu cầu đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xanh trong xây dựng, năng lượng, vận tải ở các nước đang phát triển có thể lên tới 563 tỷ USD vào năm 2030 cùng với 100 tỷ USD để thích nghi với biến đổi khí hậu.