CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN ĐỀ TÀI 1. Bối cảnh nghiên cứu Theo trường phái kinh tế học tân cổ điển bốn “nguồn vốn” cơ bản đóng góp cho tăng trưởng kinh tế là: vốn tài nguyên, vốn lao động, vốn tư bản và vốn khoa học kỹ thuật. Những quốc gia/vùng chậm hoặc đang phát triển thì hầu hết bốn nguồn vốn này đều nằm trong tình trạng “khan hiếm và chất lượng thấp”.
Samuelson và Nordhaus (1985), Rostow (1990) cho rằng muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì các quốc gia phải chuẩn bị những tiền đề về cơ sở hạ tầng như năng lượng, hạ tầng giao thông, viễn thông, cảng biển, sân bay v.v… đây là những tiền đề quan trọng để giúp cho mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh phát triển. Mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế thu hút được nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu và các cơ quan quản lý Nhà nước (Tiba và Omri, 2017) vì: Thứ nhất: Muốn sản xuất ra của cải vật chất thì phải sử dụng tài nguyên nhiên thiên nhiên, trong đó có yếu tố năng lượng. Ở các quốc gia đang phát triển nếu trữ lượng tài nguyên thiên nhiên không khan hiếm thì cũng bị xếp vào loại “tài nguyên nghèo” do quy mô dân số, vốn con người thường là thấp nên không khai thác được hiệu quả kinh tế của tài nguyên. Tài nguyên thường bị khai thác ở dạng thô để phục vụ tăng trưởng ngắn hạn (Samuelson và Nordhaus, 1985).
Nhưng đối với loại tài nguyên này, tự bản thân nó không thể phát huy được hiệu quả kinh tế nếu tách rời với vốn con người và khoa học kỹ thuật. Công nghệ sản xuất lạc hậu nên mức tiêu hao nguyên nhiên vật liệu lớn. Tiếp cận giáo dục bị hạn chế dẫn đến năng suất lao động thấp, nhận thức về tiết kiệm năng lượng chưa hình thành (Apergis và Payne, 2009; Odhiambo, 2009a). Hậu quả là năng lượng bị lãng phí, hoặc cạn kiệt.
Thứ hai: Giá của các loại năng lượng có xu hướng tăng và khó dự đoán. Kể từ sau “cú sốc dầu lửa” ở giai đoạn 1970-1980 thì giá của tất cả các loại năng lượng liên tục tăng trên phạm vi toàn cầu. Đối với các quốc gia không có sẵn các nguồn năng lượng thì việc hiểu thấu đáo mối quan hệ giữa tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế sẽ cho phép phân tích tác động, tầm quan trọng của từng loại năng lượng và xây dựng chiến lược để lựa chọn hoặc tìm kiếm các loại năng lượng thay thế. Xu hướng này càng trở nên rõ nét ở các nước phát triển thuộc liên minh Châu Âu, nơi mà người dân không chấp nhận cho các chính sách sản xuất/tiêu thụ năng lượng không hiệu quả mà Chính phủ 2 đang thi hành.
“Cái giá phải trả” cho tăng trưởng kinh tế không chỉ là tình trạng cạn kiệt năng lượng/tài nguyên mà còn là tình trạng biến đổi khí hậu đang diễn ra ngày càng phức tạp, có nguy cơ đe dọa đến sự phát triển bền vững tại hầu hết các quốc gia trên thế giới (Lee và Chiu, 2011; Shahbaz và cộng sự 2017). Thời gian gần đây giá năng lượng chịu tác động mạnh bởi những bất ổn từ chu kỳ kinh doanh, hay dịch bệnh lớn. Khi cuộc đua vì sự thịnh vượng không thể dừng lại thì vấn đề tiêu thụ năng lượng càng trở lên cấp bách (Islam và cộng sự 2013). Thứ ba: Theo Samuelson và Nordhaus (1985) các quốc gia gia mới nổi thường phải đối mặt với cái vòng luẩn quẩn là tiết kiệm và tích lũy thấp dẫn đến đầu tư thấp.
Đầu tư ít sẽ dẫn đến năng suất lao động thấp, mà năng suất không cao thì thu nhập sẽ chậm được cải thiện. Cuối cùng, vì thu nhập ít thay đổi dẫn đến tiết kiệm và tích lũy “vốn vật chất” thấp. Muốn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thì phải có tích lũy vốn vật chất, Samuelson đề xuất các quốc gia nên sử dụng “cú huých” từ bên ngoài. Lý thuyết kinh tế chỉ ra ba giải pháp chính để tăng được trữ lượng vốn vật chất đó là: i) kêu gọi đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI); ii) đi vay; iii) bán bớt tài sản quốc gia.
Acemoglu và Zilibotti (1997), Klein và Olivei (2008), Gandolfo (2014) đều cho rằng hội nhập kinh tế là gợi ý quan trọng để giải quyết nhu cầu về vốn vật chất phục vụ cho tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, cũng có những nghiên cứu như của Edison và cộng sự (2002), Kraay (1998) lại khẳng định hội nhập kinh tế không hẳn sẽ tác động, thậm chí còn có thể tác động bất lợi đến tăng trưởng kinh tế. Cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008 một lần nữa nung nóng những tranh luận về giá trị/lợi ích của hội nhập kinh tế. Đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển, quy mô nền kinh tế còn nhỏ, thị trường và thiết chế quản lý tài chính chưa hoàn thiện làm cho những hệ lụy tiêu cực từ hội nhập tài chính trở lên khó kiểm soát.
hội nhập kinh tế tạo ra cơ hội, nhưng dường như vẫn tồn tại những ngưỡng điều kiện ban đầu cần thiết phải đạt được trước khi có thể nhận được những lợi ích gia tăng hay chí ít là giảm thiểu rủi ro có thể gặp phải từ xu hướng toàn cầu hóa (Trang và Kiều, 2015). Thứ tư: Bên cạnh nhu cầu về tích lũy vốn vật chất thì nhu cầu đổi mới công nghệ sản xuất ở các quốc gia đang phát triển cũng rất lớn. Hệ thống giáo dục chưa phát triển, trình độ dân trí thấp dẫn đến hệ quả là quốc gia đang phát triển luôn ở trong tình trạng lạc hậu về khoa học kỹ thuật do không đủ tiền để mua các máy móc mới, công nghệ mới.thậm chí nếu đủ tiền thì số lượng và trình độ nhân lực cũng không đủ để tiếp cận 3 được với các kỹ thuật sản xuất mới. Những thách thức này ngày càng lớn khi khoa học kỹ thuật được coi là “lực lượng sản xuất” và phát triển rất nhanh ở các nước phát triển.
Các quốc gia không thể tự mình sáng chế được tất cả các công nghệ, do vậy con đường ngắn nhất là nhập khẩu hoặc tiếp nhận chuyển giao công nghệ. hội nhập kinh tế giúp lan tỏa gián tiếp công nghệ thông qua hoạt động của các liên doanh, và nhờ hội nhập kinh tế, FDI mà thu nhập của người dân dần được cải thiện (Alfaro và cộng sự 2004; Borensztein và cộng sự 1998; Carkovic và Levine, 2002; Gao, 2005). Việc tiếp xúc với các chuyên gia, công nhân nước ngoài có trình độ và kỹ năng cao hơn giúp thay đổi nhận thức của doanh nghiệp/người dân về tư duy kinh tế, cải thiện năng suất lao động, tiêu hao năng lượng và ô nhiễm môi trường ít hơn. Solow (1956), Frankel và Romer (1999), Romer (1990) nhấn mạnh các quốc gia phát triển sau có thể tận dụng yếu tố công nghệ để đuổi kịp các quốc gia phát triển.
Tuy nhiên, xét trên tổng thể đây chỉ là cơ hội. Tận dụng được hay không phụ thuộc vào nội lực, vào thể chế của từng quốc gia (North, 1990). Theo phân loại của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2012, Việt Nam được xếp vào nhóm những quốc gia ở giai đoạn đầu của nước đang phát triển nên sử dụng năng lượng dạng thô còn lớn, điều này chỉ phục vụ cho tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn. Việt Nam hiện đang gặp phải tình trạng thiếu sản lượng điện phục vụ cho nhu cầu phát triển khi chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế sang phát triển công nghiệp và dịch vụ.
Theo Tổng Công ty Điện lực Việt Nam (2017), năm 2016 sản lượng điện phục vụ cho các ngành công nghiệp chiếm tỉ lệ 52%, nhu cầu tiêu thụ điện hàng năm tăng khoảng 17%. Trước năm 1995 tình trạng thiếu điện đã diễn ra cục bộ, ảnh hưởng xấu đến sản xuất, kinh doanh và đời sống sinh hoạt của người dân. Với sự nỗ lực của Chính Phủ, ngày 27/5/1994, đường dây điện quốc gia 500 kV được đưa vào vận hành giúp sản lượng điện tăng đột biến. Nếu như giai đoạn 1990-1992, mức độ tăng trưởng ngành điện là 5-6% thì đến giai đoạn 1995-1997, mức tăng trưởng ngành điện lên đến 18-19%.
Thống kê về tăng trưởng kinh tế trong hai thời kỳ này cũng cho thấy sự thay đổi lớn. Đầu những năm 1990, tốc độ tăng trưởng GDP là 5,1% thì sau năm 1995, tốc độc tăng trưởng GDP lên đến 9,5%. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tăng trưởng kinh tế nhưng với nhiệm vụ cung cấp đủ điện để duy trì sản xuất, ngành điện đã và sẽ đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Về hội nhập kinh tế, tính đến tháng 12/2018 có 126 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam.
Đồng thời Việt Nam đã đàm phán và ký kết 12 Hiệp định thương 4 mại tự do đa phương và song phương, đang đàm phán 4 hiệp định trong đó có 2 hiệp định được nhìn nhận là ảnh hưởng lớn đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm tiếp theo: Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA) và Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Phải thừa nhận rằng hội nhập kinh tế đang được ủng hộ mạnh mẽ ở Việt Nam. Tuy nhiên hội nhập kinh tế cũng gây ra những hệ lụy tiêu cực, Lucas (1990), Blomstrom và cộng sự (1992) hay Trang và Kiều (2015) đã khuyến nghị rằng hội nhập kinh tế sẽ không tốt đối với những quốc gia có chất lượng thể chế thấp, nguồn vốn con người chưa đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp, hay dự trữ ngoại hối chưa đủ lớn. Nếu các quốc gia chưa chuẩn bị đầy đủ các điều kiện tối thiểu thì mặt tích cực của hội nhập kinh tế sẽ không nhận được, mà sẽ nhận lại những tác động tiêu cực như dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên, ô nhiễm môi trường, bất ổn chính trị v.v… Tựu chung lại, nghiên cứu mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà nó còn cung cấp bằng chứng thực nghiệm để giúp các quốc gia đang phát triển như Việt Nam xác định được tỉ trọng và xu hướng đóng góp của từng yếu tố hội nhập và tiêu thụ năng lượng vào tăng trưởng kinh tế.
Từ đó hoạch định được các chiến lược hội nhập và an ninh năng lượng cho phù hợp với xuất phát điểm, quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế của quốc gia mình. Vấn đề nghiên cứu Xét trên góc độ khoa học, mối quan hệ giữa hội nhập kinh tế, tiêu thụ năng lượng và tăng trưởng kinh tế đến nay đã được thực hiện như sau: 1.