CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Chất lượng đội ngũ lao động 1. Lao động Lao động là hoạt động có mục đích của con người, trong quá trình lao động, con người vận dụng sức lực của bản thân, sử dụng công cụ lao động để tác động vào các yếu tố tự nhiên, biến đổi chúng và làm cho chúng trở nên có ích cho đời sống của con người (Phạm Đức Thành và Mai Quốc Chánh, 2012). Trong phát triển kinh tế, quá trình lao động đồng thời là quá trình sử dụng sức lao động để đưa các tư liệu lao động vào sản xuất để tạo ra sản phẩm, của cải vật chất cho xã hội. Nguồn lao động và lực lượng lao động là những khái niệm có ý nghĩa quan trọng làm cơ sở cho việc xác định và tính toán cân đổi lao động – việc làm trong xã hội.
Nguồn lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định của pháp luật có khả năng lao động và những người ngoài độ tuổi lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân. Việc quy định cụ thể về độ tuổi lao động là khác nhau giữa các quốc gia, thậm chí khác nhau qua các thời kỳ trong cùng một quốc gia, tùy thuộc trình độ phát triển của nền kinh tế. Đa số các nước quy định cận dưới (tuổi tối thiểu) của độ tuổi lao động là 15 tuổi, còn cận trên (tuổi tối đa) có sự khác nhau (60 tuổi, hoặc 65 tuổi…). Ở nước ta, theo quy định của Luật Lao động (1994), độ tuổi lao động đối với nam từ 15 tuổi đến 60 tuổi 6 tháng và nữ là từ 15 tuổi đến 55 tuổi 8 tháng.
Nguồn lao động luôn được xem xét trên 2 mặt biểu hiện là số lượng và chất lượng. Xét về mặt số lượng, nguồn lao động bao gồm: Bộ phân dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm. Dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm công việc nội trợ trong gia đình, không có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác (bao gồm cả những người nghỉ hưu trước tuổi quy định). 5 Khoa quản lý kinh doanh Đại học Công nghiệp Hà Nội Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 Trần Thị Quỳnh QTKD04 – K13 Chất lượng của nguồn lao động về cơ bản được đánh giá ở trình độ chuyên môn, tay nghề (trí lực) và sức khoẻ (thể lực) của người lao động.
Lực lượng lao động theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) là bộ phận dân số trong độ tuổi lao động theo quy định, thực tế đang có việc làm và những người thất nghiệp song đang có nhu cầu tìm việc làm. Ở nước ta hiện nay, lực lượng lao động được xác định là bộ phận dân số đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp. Lực lượng lao động theo quan niệm như trên là đồng nghĩa với dân số hoạt động kinh tế và nó phản ánh khả năng thực tế về cung ứng lao động của xã hội. Chất lượng đội ngũ lao động Chất lượng đội ngũ lao động là một khái niệm rất rộng, là một trong những yếu tố để đánh giá nguồn lao động.
Chất lượng nguồn lao động thể hiện qua mối quan hệ giữa các yếu tố cấu thành nên bản chất bên trong của nguồn lao động, bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực. Trí lực: là năng lực của trí tuệ, quyết định phần lớn khả năng lao động sáng tạo của con người. Trí tuệ được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu của nguồn lực con người bởi tất cả những gì thúc đẩy con người hành động phải thông qua đầu óc của họ. Khai thác và phát huy tiềm năng trí tuệ là yếu tố quan trọng của việc phát huy nguồn lực con người.
Trí lực bao gồm các yếu tố tổng hợp từ trình độ văn hóa, chuyên môn, kỹ thuật, kỹ năng lao động. Trình độ văn hóa là nền tảng, là cơ sở cho sự phát triển của trình độ chuyên môn, kỹ thuật. Trình độ chuyên môn kỹ thuật lại là điều kiện đảm bảo cho nguồn lao động hoạt động mang tính chuyên môn hóa và chuyên nghiệp hóa. Kỹ năng lao động theo từng ngành nghề, lĩnh vực là yêu cầu quan trọng trong phát triển nguồn lao động ở xã hội công nghiệp.
Thể lực: là trạng thái sức khỏe của con người, là điều kiện đảm bảo cho con người phát triển một cách bình thường, đáp ứng được những yêu cầu về sức lực, thần kinh, cơ bắp trong lao động. Trí lực đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn lao động, tuy nhiên, trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế trên nền thể lực khỏe mạnh. Chăm sóc sức khỏe là nhiệm vụ quan trọng để nâng cao chất lượng 6 Khoa quản lý kinh doanh Đại học Công nghiệp Hà Nội Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 Trần Thị Quỳnh QTKD04 – K13 nguồn lao động, tạo tiền đề để phát huy tối đa tiềm lực của con người. Tâm lực: hay còn gọi là tâm lý – xã hội, chính tác phong, tinh thần – ý thức trong lao động như: tác phong công nghiệp (khẩn trương, đúng giờ, …), có ý thức tự giác, đam mê nghề nghiệp, sáng tạo, năng động trong công việc, có khả năng chuyển đổi công việc thích ứng với những thay đổi trong lĩnh vực công nghệ và quản lý (Nguyễn Vân Điềm và Nguyễn Ngọc Quân, 2012).
Vai trò đội ngũ lao động trong doanh nghiệp Nguồn lực lao động là động lực cho sự phát triển kinh tế nói riêng và là động lực phát triển xã hội, con người nói chung. Đại hội lần thứ XI của Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định: “Phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự phát triển nhanh, bền vững đất nước”. Xét dưới góc độ các yếu tố nguồn lực thì nguồn lực lao động chính là lực lượng lao động. Lực lượng lao động là bộ phận dân số trong độ tuổi có khả năng lao động được pháp luật quy định, thực tế đang làm việc và những người thất nghiệp.
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người… Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực lao động (con người) là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay. Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn. Có ba vai trò chính đó là: Nguồn lực lao động phát hiện, sáng tạo ra các nguồn lực phát triển: con người là chủ thể phát hiện, khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên để tạo nên tăng trưởng kinh tế, nguồn lực vốn là kết quả lao động và tích lũy của con người mà có, nguồn lực khoa học – công nghệ cũng do con người sáng tạo ra. Nguồn lực lao động đóng vai trò quyết định trong việc sử dụng các nguồn lực khác.
Chất lượng nguồn lực lao động là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả 7 Khoa quản lý kinh doanh Đại học Công nghiệp Hà Nội Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 Trần Thị Quỳnh QTKD04 – K13 sử dụng ba nguồn lực còn lại (gồm nguồn lực vốn, khoa học – công nghệ, tài nguyên thiên nhiên). Nói đến nguồn lực lao động là nói đến tổng thể nguồn lực lao động của một quốc gia, trong đó nguồn lực lao động có trình độ cao là bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng, có chất lượng và có vai trò quyết định sự thành công đối với phát triển kinh tế của một đất nước. Nguồn lực lao động là động lực của phát triển kinh tế. Nguồn lực lao động vừa có nhu cầu tự thân để phát triển với yêu cầu ngày càng cao, phong phú và chủ thể sáng tạo công nghệ, điều chỉnh cơ cấu kinh tế để thỏa mãn các nhu cầu xã hội.
Mối quan hệ giữa nguồn lực lao động với phát triển kinh tế thì nguồn lực lao động luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế đất nước. Nguồn lực lao động quyết định quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xã hội, từ sử dụng lao động thủ công sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động được đào tạo cùng với công nghệ tiên tiến, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại nhằm tạo ra năng suất lao động xã hội cao. Trong nền kinh tế công nghiệp, nền kinh tế tri thức, nguồn lao động chất lượng cao là nhân tố quyết định. Đảng và Nhà nước ta khẳng định mục tiêu và động lực phát triển kinh tế - xã hội là vì con người và do con người.
Bên cạnh đó, nguồn lao động vừa là yếu tố "đầu vào" của quá trình sản xuất, vừa là người tham gia tiêu dùng các sản phẩm và dịch vụ của xã hội. Như vậy, với tư cách là bộ phận dân số thực hiện quá trình tiêu dùng, nguồn lao động trở thành nhân tố tạo cầu của nền kinh tế. Nguồn lực lao động khác với các nguồn lực khác là vừa tham gia tạo cung, tạo cầu, vừa trực tiếp điều tiết quan hệ gắn bó với chủ thể kinh tế - xã hội do con người tạo ra. Do đó nguồn lực lao động có vai trò đặc biệt đối với phát triển kinh tế so với các nguồn lực khác, phát triển nguồn nhân lực chính là quá trình tạo lập và sử dụng năng lực toàn diện con người vì sự tiến bộ kinh tế - xã hội và sự hoàn thiện bản thân mỗi con người.
Đối với nước ta đó là một quá trình tất yếu để phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa. 8 Khoa quản lý kinh doanh Đại học Công nghiệp Hà Nội Downloaded by MON MON (monmon2@gmail.com) lOMoARcPSD|39222638 Trần Thị Quỳnh QTKD04 – K13 Với ý nghĩa đó, trong thời gian qua Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm, tạo điều kiện để thực hiện phát huy nguồn lực lao động từ đó làm cơ sở phát triển đất nước, chính vì vậy trong thời gian qua nguồn lực lao động nước ta phát triển cả về số lượng, chất lượng, tạo ra một nguồn lực lao động dồi dào, đủ trình độ để thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.