CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ QUẢN LÝ DOANH NGHIỆP Trong cơ chế thị trường hiện nay, để phát triển các doanh nghiệp Việt Nam nhận biết sâu sắc rằng: chất lượng quản lý là nhân tố quyết định nhiều nhất sức cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh, tồn tại và phát triển. Canh tranh giữa các doanh nghiệp chuyển trọng tâm vào ạnh c tranh giành dật 3 loại người tài: cán bộ quản lý giỏi, chuyên gia công nghệ và thợ lành nghề. Đội ngũ cán bộ quản lý giỏi là loại người tài có vai trò quyết định lớn nhất ở doanh nghiệp. Thực tiễn phát triển hoạt động của doanh nghiệp đòi h ỏi lý luận phải trả lời rõ ràng, cụ thể được đồng thời cả 3 câu hỏi là: tại sao khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên phải thường xuyên nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp; nâng cao từ bao nhiêu lên bao nhiêu; nâng cao bằng cách nào.
Góp phần trả lời câu hỏi 1 có sự tham gia của nội dung mục 1.1; câu hỏi 2 - nội dung mục 1.2; câu hỏi 3 - nội dung mục 1.1 Cơ sở lý thuyết về quản trị chất lượng. “ Chất lượng ” được các đối tượng sử dụng hiểu theo ý nghĩa khác nhau. Người sản xuất coi chất lượng là điều họ phải làm để đáp ứng các quy định và yêu cầu do khách hàng đặt ra, để được khách hàng chấp nhận. Chất lượng được so sánh với chất lượng của đối thủ cạnh tranh và kèm theo các phí, giá cả do con người và nền văn hóa trên thế giới khác nhau, nên cách hiểu của họ về chất lượng và đảm bảo chất lượng cũng khác nhau.
Theo tổ chức Quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO, trong dự thảo DIS 9000:2000, đã đưa ra định nghĩa: “ Chất lượng là khả năng tập hợp các đặc tính của một sản phẩm, hệ thống hay quá trình để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng và các bên có liên quan “. Phạm Thanh Tùng 7 CH QTKD BKHN 2011 - 2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL của Công ty TTCÔ Quản trị chất lượng là một hoạt động có từ lâu đời và được rất nhiều các học giả đề cập dưới nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên trên thế giới hiện đang thịnh hành ba cách tiếp cận chủ đạo về quản trị. Cách tiếp cận thứ nhất, theo học giả trong nền kinh tế kế hoạch tập trung ( centrally-planned economy ), quản trị là một quá trình tác động hướng đích của chủ thể vào khách hàng để nhằm đặt được các mục tiêu đã đề ra trên cơ sở các nguồn lực nhất định.
Cách tiếp cận thứ hai, theo các học giả của nền kinh tế thị trường, quản trị là quá trình làm việc với và làm việc thông qua người khác nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức trên cơ sỏ các nguồn lực nhất định. Cách tiếp cận này đã được phát biểu không chỉ dựa trên yếu tố tâm lý, yếu tố con người (behavior- based), mà còn dựa trên yếu tố công việc (task-based) Cách tiếp cận thứ ba, là tiếp cận trên cơ sở thực thi một công việc nào đó, hay còn gọi là khai thác yếu tố công việc. (task-based) Như vậy, có rất nhiều cách tiếp cận về quản trị, quản lý. Việc lựa chọn cách tiếp cận nào để áp dụng vào tình huống cụ thể nào đó tùy thuộc vào quan điểm, nhận định của mỗi nhà quản trị.
Doanh nghiệp là khách hàng đặc biệt của sản phẩm CBQL, hầu hết mọi doanh nghiệp đề mong muốn có một đội ngũ CBQL có trình độ cao, đáp ứng được mọi yêu cầu công việc. Do đó nâng cao chất lượng CBQL là tiêu chi rất quan trọng trong sự phát triển trong tương lai của doanh nghiệp, đáp ứng mọi yêu cầu, thách thức trong giai đoạn mới.2 Quan hệ giữa hiệu quả kinh doanh với chất lượng quản lý hoạt động và với chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý của doanh nghiệp Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển được khi có cạnh tranh từ đáng kể trở lên chúng ta cần phải hiểu, quán triệt bản chất và mục đích hoạt động của Phạm Thanh Tùng 8 CH QTKD BKHN 2011 - 2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL của Công ty TTCÔ doanh nghiệp trong giải quyết tất cả các vấn đề, các mối quan hệ của hoặc liên quan đến quá trình kinh doanh; nhận thức và đầu tư thỏa đáng cho quản lý doanh nghiệp. Trong kinh tế thị trường hoạt động của doanh nghiệp là quá trình đầu tư, sử dụng các nguồn canh tranh với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, tạo lập hoặc củng cố vị thế với kỳ vọng đạt hiệu quả cao bền lâu nhất có thể. Doanh nghiệp là đơn vị tiến hành một hoặc một số hoạt động kinh doanh, là tổ chức làm kinh tế.
Doanh nghiệp có thể sản xuất kinh doanh, kinh doanh thương mại, kinh doanh dịch vụ. Như vậy, bản chất của hoạt động của doanh nghiệp là đầu tư, sử dụng các nguồn lực tranh giành với các đối thủ phần nhu cầu của thị trường, những lợi ích phát sinh. Mục đích hoạt động của doanh nghiệp là đạt được hiệu quả cao nhất, bền lâu nhất có thể. Theo quyển số 15, trang 15, hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là kết quả tương quan, so sánh những lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp quy tính thành tiền với tất cả các chi phí cho việc có được các lợi ích đó cũng quy tính thành tiền.
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là tiêu chuẩn được sáng tạo để đánh giá, lựa chọn mỗi khi cần thiết. Do đó, cần tính toán tương đối chính xác và có chuẩn mực để so sánh. Để tính toán được hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trước hết cần tính toán được toàn bộ các lợi ích và toàn bộ các chi phí tương thích. Do lợi ích thu được từ hoạt động của doanh nghiệp cụ thể hàng năm thường rất phong phú, đa dạng hữu hình và vô hình ( tiền tăng thêm, kiến thức, ký năng tăng thêm, quan hệ tăng thêm, tăng thêm về công ăn việc làm, cân bằng hơn về phát triển kinh tế, thu nhập, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, môi trường chính trị - xã hội …) nên cần nhận biết, thống kê cho hết và biết cách quy tính tương đối chính xác ra tiền.
nguồn lực được huy động, sử dụng cho hoạt động của doanh nghiệp cụ thể trong năm thường bao gồm nhiều loại, nhiều dạng, vô hình và hữu hình và có loại chỉ tham gia một phần Phạm Thanh Tùng 9 CH QTKD BKHN 2011 - 2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL của Công ty TTCÔ nên cần nhận biết, thống kê đầy đủ và bóc tách - quy tính ra tiền cho tương đối chính xác. Mỗi khi phải tính toán, so sánh các phương án, lựa chọn một phương án đầu tư kinh doanh cần đánh giá, xếp loại A, B, C mức độ tác động, ánh hưởng đến tình hình chính trị - xã hội và môi trường sinh thái như sau: Bảng 1.1: Bảng các hệ số xét tính lợi ích xã hội - chính trị và ảnh hưởng đến môi trường trong việc xác định, đánh giá hiệu quả sản xuất công nghiệp Việt Nam. Giai đoạn Loại ảnh hưởng 2006 - 2010 2011 - 2015 2016 - 2020 Xã hội - Chính trị 1,35 1,25 1,15 Loại A Môi trường 1,2 1,3 1,45 Xã hội - Chính trị 1 1 1 Loại B Môi trường 1 1 1 Xã hội - Chính trị 0,80 0,85 0,90 Loại C Môi trường 0,80 0,75 0,70 Nguồn:[ 14, 258] Sau khi đã quy tính, hàng ănm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được nhận biết, đánh giá trên cơ sở các chỉ tiêu: Lãi( Lỗ), Lãi / tổng tài sản. Trong kinh tế thị trường doanh nghiệp tiến hành kinh d oanh là tham gia cạnh tranh.
Vị thế cạnh tranh( lợi thế so sánh) của doanh nghiệp chủ yếu quyết định mức độ hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Khi nền kinh tế của đất nước hội nhập với kinh tế khu vực, kinh tế thế giới doanh nghiệp có thêm nhiều cơ hội, đồng thời phải chịu thêm nhiều sức ép mới. Trong bối cảnh đó doanh nghiệp nào tụt lùi, không tiến so với trước, tiến chậm so với các đối thủ là tụt hậu, là thất thế trong canh tranh, là vị thế cạnh Phạm Thanh Tùng 10 CH QTKD BKHN 2011 - 2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL của Công ty TTCÔ tranh thấp kém hơn, là bị đối thủ mạnh hơn thao túng, là hoạt động hiệu quả thấp hơn, xuật hiện nguy cơ phá sản, dễ đi đến đổ vỡ hoàn toàn. Ta Đối thủ cạnh tranh Dễ Năng lực Khó Thời gian Hình 1.1: Vị trí cạnh tranh quyết định mức độ khó (dễ) đạt hiệu quả cao hoạt động của doanh nghiệp Thực tế của Việt Nam từ trước đến nay và thực tế của các nước trên thế giới luôn chỉ ra rằng: vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp chủ yếu do trình độ (năng lực) lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp đó quyết định.
Quản lý doanh nghiệp viết đầy đủ là quản lý hoạt động của doanh nghiệp, nó bao gồm các quản lý chiến lược và quản lý điều hành. Quản lý chiến lược bao gồm: hoạch định chiến lược, thẩm định chiến lược và chỉ đạo thực hiện chiến lược. Hoạch định chiến lược là xác định mục tiêu chiến lược , các cặp sản phẩm khách – hàng chiến lược và các nguồn lực chiến lược. Doanh nghiệp làm ăn lớn khi có cạnh tranh đáng kể muốn đạt hiệu quả cao không thể không có chiến lược kinh doanh, quản lý chiến lược.
Quản lý điều hành hoạt động của doanh nghiệp là tìm cách, biết cách tác động đến những Phạm Thanh Tùng 11 CH QTKD BKHN 2011 - 2013 Đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CBQL của Công ty TTCÔ con người, nhóm người để họ tạo ra và luôn duy trì ưu thế về chất lượng, giá, thời hạn của sản phẩm, thuận tiện cho khách hàng. Quản lý doanh nghiệp một cách bài bản, có đầy đủ căn cứ khoa học là nhân tố quan trọng nhất của hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.