Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt; Chương 2: Phân tích hiện trạng chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt tại HTX 19/5; Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ VTHKCC bằng xe buýt tại HTX 19/5. 5 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ VẬN TẢI HÀNH KHÁCH CÔNG CỘNG BẰNG XE BUÝT 1. Tổng quan về vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt 1. Hệ thống giao thông vận tải Hệ thống Giao thông vận tải: là tập hợp các công trình giao thông và các phương thức vận tải khác nhau đảm bảo sự liên kết giữa các khu vực với nhau.
Hệ thống giao thông vận tải bao gồm 02 hệ thống con đó là hệ thống giao thông và hệ thống vận tải. Hệ thống giao thông: là tập hợp các công trình, các con đường và các kết cấu hạ tầng khác để phục vụ cho việc di chuyển hàng hoá và hành khách được thuận tiện, thông suốt, nhanh chóng, an toàn và đạt hiệu quả cao. Trong hệ thống giao thông có hệ thống giao thông động và hệ thống giao thông tĩnh. - Hệ thống giao thông động: là phần của mạng lưới giao thông có chức năng đảm bảo cho phương tiện và người di chuyển được thuận tiện giữa các khu vực; đó là mạng lưới đường sá, cùng nút giao thông, cầu vượt.
- Hệ thống giao thông tĩnh: Là bộ phận của hệ thống giao thông phục vụ phương tiện trong thời gian không hoạt động và hành khách tại các điểm đỗ đón trả khách và xếp dỡ hàng hoá; đó là hệ thống các điểm đỗ, điểm dừng, bãi hậu cần, bến xe,.1: Hệ thống giao thông vận tải 6 1. Vận tải hành khách công cộng a. Khái niệm Vận tải hành khách công cộng là một bộ phận cấu thành trong hệ thống vận tải đô thị, nó là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu đi lại của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xác định, theo hướng và theo tuyến cố định trong từng thời kỳ nhất định. Hành khách chấp nhận chi trả mức giá theo quy định.
Phân loại Vận tải hành khách công cộng được phân chia thành nhiều loại, tùy thuộc vào cách thức phân loại: Theo tính xã hội của đối tượng phục vụ thì VTHKCC là loại hình vận tải phục vụ chung cho xã hội mang tính công cộng trong đô thị, bất luận nhu cầu đi lại thuộc về nhu cầu gì (nhu cầu thường xuyên, nhu cầu ổn định, nhu cầu phục vụ…) với quan niệm này VTHKCC bao gồm cả vận tải taxi, xe buýt, tàu điện ngầm… Theo tính chất phục vụ vận tải (không theo đối tượng phục vụ) thì VTHKCC là loại hình vận chuyển trong đô thị có thể đáp ứng khối lượng lớn nhu cầu của mọi tầng lớp dân cư một cách thường xuyên, liên tục theo thời gian xây dựng, theo hướng và tuyến ổn định trong từng thời kì nhất định. Với khái niệm này VTHKCC bao gồm: vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn (UMRT) như tàu điện ngầm (MRT), đường sắt 1 ray (monorail), tramway; và loại hình vận tải hành khách công cộng thông thường như xe buýt. Vai trò Thứ nhất: VTHKCC đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân trong thành phố Do quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ, dân số ngày càng tăng, đời sống xã hội được nâng cao, kéo theo đó là sự gia tăng về nhu cầu đi lại của người dân đô thị. Trên các đường phố nội đô công suất luồng hành khách là rất lớn, cho nên nếu chỉ sử dụng phương tiện cá nhân thì cơ sở hạ tầng sẽ không thể đáp ứng nổi.
Khi đó sử dụng phương tiện VTHKCC là giải pháp hiệu quả để giảm tải ách tắc giao thông do các phương tiện VTHKCC thường có công suất vận chuyển lớn, ví dụ như xe buýt 6.000 HK/giờ, tàu điện ngầm (Metro) 40.000 HK/giờ… 7 Thứ hai: VTHKCC là nhân tố chủ yếu để tiết kiệm thời gian đi lại của người dân đô thị, góp phần tăng năng suất lao động Để xác định hiệu quả do giảm thời gian chuyến đi, người ta xác định trên 2 mặt là tiết kiệm lao động sống và lao động vật hóa. Công thức xác định mức độ tiết kiệm lao động sống: H = (t2 – t1) .1) Trong đó: + H : giá trị tạo ra sản phẩm ứng với thời gian hao phí do đi lại. + t2, t1: là thời gian chuyến đi để so sánh giữa phương án 2 và phương án 1. + Q: số lượng hành khách sử dụng phương án.
+ GDP: giá trị sản phẩm quốc dân tính cho 1 giờ làm việc của 1 người dân trong vùng tính toán. + a: hệ số chuyển đổi, a = 0,5 – 1 Tiết kiệm chi phí vật hóa: giảm lượng xăng dầu tiêu hao khi xảy ra ùn tắc giao thông. Thứ ba: VTHKCC tạo thuận lợi cho việc phát triển chung của đô thị Đô thị hóa luôn gắn liền với các khu công nghiệp, khu dân cư, thương mại, văn hóa, kéo theo đó là sự gia tăng cả về phạm vi lãnh thổ và quy mô dân số. Từ đó dẫn đến xuất hiện các quan hệ vận tải với công suất lớn và khoảng cách xa.
Nếu không thiết lập một mạng lưới VTHKCC hợp lý tương ứng với nhu cầu thì đó sẽ là lực cản đối với quá trình đô thị hóa. Thứ tư: VTHKCC là một biện pháp hữu hiệu để giảm thiểu mật độ giao thông trên đường Trong thành phố việc mở rộng lòng lề đường là rất khó thực hiện, trong khi đó nhu cầu đi lại của cư dân đô thị ngày càng lớn, mật độ phương tiện tham gia giao thông chính vì thế cũng tăng cao, điều này làm cho tốc độ lưu thông thấp, kéo theo ùn tắc giao thông. Theo kết quả tính toán nếu tất cả các nhu cầu đi lại được thực hiện bằng xe buýt thì diện tích đường chỉ bằng 10 – 20% diện tích khi hành khách đi lại bằng xe máy và ô tô con. 8 Thứ năm: VTHKCC góp phần bảo vệ môi trường đô thị Ở một thành phố lớn, mật độ dân cư lớn cùng với sự gia tăng nhanh chóng của các phương tiện cá nhân (ô tô, xe máy) thì phát triển GTVT phải gắn liền với các giải pháp bảo vệ môi trường.
Việc sử dụng các phương tiện VTHKCC sẽ góp phần cải thiện môi trường, giảm lượng khí thải độc hại do các phương tiện cá nhân thải ra. Thứ sáu: VTHKCC góp phần giảm chi phí chung cho toàn xã hội Chi phi để mua sắm phương tiện các nhân (xe máy, ô tô), tiết kiệm quỹ đất của thành phố, tiết kiệm được chi phí mở rộng, cải tạo mạng lưới đường sá, chi phí xăng dầu, chi phí lãng phí thời gian do tắc đường … 1. Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt a. Khái niệm Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là một bộ phận trong hệ thống vận tải hành khách công cộng đô thị, với phương tiện vận chuyển hành khách là xe buýt.
Theo Quyết định số 13/2015/QĐ-TTg ngày 05/05/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt là hoạt động vận tải hành khách theo tuyến cố định bằng xe buýt có các điểm dừng đón, trả khách và phương tiện chạy theo biểu đồ vận hành. Đặc điểm của VTHKCC bằng xe buýt VTHKCC bằng xe buýt được coi là phương thức vận tải hành khách phổ biến nhất hiện nay ở các thành phố. VTHKCC bằng xe buýt có thể thích ứng với tất cả các loại đô thị khác nhau. VTHKCC bằng xe buýt so với một số phương thức VTHKCC khối lượng lớn khác có một số ưu, nhược điểm như sau: Ƣu điểm - VTHKCC bằng xe buýt có tính cơ động cao, ít cản trở, hòa nhập với các loại hình vận tải giao thông đường bộ khác.
Có thể hoạt động trong điều kiện khó khăn về đường sá, thời tiết nên có thể tiếp cận đến các vùng chưa có hạ tầng phát triển một cách dễ dàng; 9 - Khai thác điều hành đơn giản, thuận lợi. Có thể nhanh chóng điều chỉnh chuyến lượt, hành trình, dễ dàng thay xe trong thời gian ngắn mà không ảnh hưởng hoạt động của tuyến; - Khai thác hợp lý và kinh tế với dòng khách nhỏ và trung bình. Cũng có thể tăng giảm chuyến đi khi số lượng hành khách thay đổi; - VTHKCC bằng xe buýt có thể hoạt động ở những nơi độ dốc lớn mà các hình thức VTHKCC bằng phương tiện bánh sắt khác không đi được; - VTHKCC bằng xe buýt cho phép phân chia nhu cầu đi lại ra các tuyến khác nhau trên cơ sở mạng lưới đường thực tế để điều tiết mức độ đi lại chung; - Chi phí đầu tư ít vì có thể tận dụng được tuyến đường hiện có, chi phí khai thác thấp hơn các loại hình khác, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội. Nhƣợc điểm - VTHKCC bằng xe buýt có năng lực vận chuyển không cao, năng suất vận chuyển thấp, tốc độ khai thác thấp; - Khả năng vượt tải thấp trong giờ cao điểm; - Thường không đáp ứng được nhu cầu của hành khách về tính tiện nghi, độ tin cậy.
Do tính cơ động, linh hoạt cao nên cũng thường dẫn đến tùy tiện, khó quản lý; - An toàn không cao, phụ thuộc nhiều vào chất lượng xe. Vai trò của VTHKCC bằng xe buýt Vận tải hành khách công cộng có ý nghĩa to lớn trong hệ thống vận tải hành khách thành phố nói chung và trong giao thông vận tải đô thị nói riêng. Ngoài những vai trò chung của VTHKCC thì VTHKCC bằng xe buýt còn đóng vai trò chủ yếu trong VTHKCC ở các thành phố trung bình và nhỏ, được sử dụng thích hợp ở các khu vực mới xây dựng, trong thời kỳ xây dựng đợt đầu của thành phố khi số lượng hành khách còn ít. Trong các thành phố cải tạo thì sử dụng xe buýt cũng rất thích hợp vì có thể thay đổi các tuyến dễ dàng khi có sự biến động về luồng hành khách; hoặc là phương tiện linh hoạt kết nối đến hệ thống VTHKCC khối lượng lớn, đến hệ thống giao thông tĩnh (bến xe, cảng hàng không, .) được thuận tiện.
Các loại tuyến vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt Theo vị trí và hình dạng mạng lưới tuyến, các tuyến xe buýt hiện được phân chia thành 4 loại: Hướng tâm, xuyên tâm, kết nối và vành đai. - Hƣớng tâm: những tuyến có lộ trình đi từ ngoại thành vào trung tâm thành phố, kết nối khu vực ngoại thành với khu vực trung tâm thành phố. - Xuyên tâm: kết nối giữa hai khu vực của thành phố đồng thời có lộ trình đi xuyên qua trung tâm thành phố.