phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công chức cấp xã và nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã Chƣơng 2: Thực trạng nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội Chƣơng 3: Giải pháp nâng cao chất lƣợng công chức cấp xã huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG CHỨC CẤP XÃ NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Khái niệm, vai trò, đặc điểm công chức cấp xã 1. Khái niệm công chức Ở nƣớc ta, ngay từ sau cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, Hiến pháp năm 1946 ra đời là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ công chức mới.
Ngày 20-5-1950 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban sắc lệnh 76/SL về thực hiện quy chế công chức. Sắc lệnh ghi rõ “ Công chức là công dân Việt Nam đƣợc chính quyền và nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thƣờng xuyên trong cơ quan Chính phủ ở trong hay ngoài nƣớc đều là công chức theo quy chế này, trừ trƣờng hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”. Ngày 25-5-1991, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định về công chức Nhà nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Công chức là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng và bổ nhiệm một công vụ thƣờng xuyên trong một công sở Nhà nƣớc ở trung ƣơng, địa phƣơng, ở trong nƣớc hay ngoài nƣớc đã đƣợc sắp xếp vào một ngạch, hƣởng lƣơng do ngân sách Nhà nƣớc cấp”. Năm 2008, Quốc Hội nƣớc Cộng hòa XHCN Việt Nam đã thông qua Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12.
Đây là bƣớc tiến mới, mang tính cách mạng về cải cách chế độ công vụ, công chức, thể chế hóa quan điểm, đƣờng lối của Đảng về công tác cán bộ, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền XHCH của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Điều 4, khoản 10 2 Luật Cán bộ, Công chức năm 2008:“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị- xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Để hƣớng dẫn thi hành Luật cán bộ công chức, Chính phủ và các bộ ngành đã ban hành nhiều văn bản pháp luật mới nhƣ Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 quy định công chức là “Công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” 1. Khái niệm công chức cấp xã Công chức cấp xã đƣợc quy định tại Khoản 3, Điều 4, Luật cán bộ, công chức năm 2008: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”. Nhƣ vậy, công chức cấp xã đƣợc tuyển dụng và phụ trách những lĩnh cực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mƣu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ trƣơng của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nƣớc.
11 Theo khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây: a) Trƣởng công an; b) Chỉ huy trƣởng Quân sự; c) Văn phòng - thống kê d) Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trƣờng (đối với phƣờng, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trƣờng (đối với xã); đ) Tài chính - kế toán e) Tƣ pháp - hộ tịch g) Văn hóa - xã hội Công chức cấp xã do huyện quản lý Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã - Số lƣợng công chức cấp xã Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ quy định: Số lƣợng cán bộ, công chức cấp xã đƣợc bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 25 ngƣời, cấp xã loại 2 không quá 23 ngƣời, cấp xã loại 3 không quá 21 ngƣời (bao gồm cả cán bộ, công chức đƣợc luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã). Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phƣờng, thị trấn. Vai trò của công chức cấp xã Công chức cấp xã là những ngƣời làm công tác chuyên môn thuộc biên chế của UBND cấp xã, có trách nhiệm tham mƣu, giúp UBND cấp xã thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực công tác đƣợc phân công và thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch UBND cấp xã giao. 12 Công chức xã là ngƣời trực tiếp tham mƣu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện tiếp xúc với nhân dân, phục vụ nhân dân, thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc theo đúng chính sách và thẩm quyền đƣợc UBND cấp xã giao.
Đặc điểm của công chức cấp xã Công chức cấp xã là một bộ phận của đội ngũ công chức đƣợc tạo nên từ nguồn chính là tuyển dụng. Do các tổ chức hành chính nhà nƣớc có cấu trúc thứ bậc, thực hiện các chức năng đa dạng, phức tạp nên công chức cấp xã cũng có những đặc trƣng cơ bản giống các đối tƣợng công chức khác, đó là: - Công chức là nhân tố chủ yếu, nhân tố hàng đầu đóng góp vào sự tồn tại, phát triển của cơ quan, tổ chức. Đồng thời họ chịu sự ràng buộc theo những nguyên tắc và khuôn khổ nhất định do tổ chức đặt ra; - Công chức mang tính Đảng, tính giai cấp rõ rệt và sản phẩm của họ là các quyết định quản lý; công chức là những ngƣời đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc; là chủ thể của nền công vụ, là những ngƣời thực thi công vụ và đƣợc Nhà nƣớc đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ; - Công chức hoạt động mang tính chất ổn định, ít chịu biến động nhằm duy trì tính ổn định, liên tục của nền hành chính; họ đƣợc bảo hộ bằng quy định “biên chế nhà nƣớc”. Bên cạnh những đặc điểm chung giống nhƣ công chức khác, do đặc thù hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã nên đội ngũ này có những đặc điểm đặc thù: Thứ nhất, hầu hết đội ngũ công chức cấp xã đều là ngƣời địa phƣơng, sinh sống tại địa phƣơng, có quan hệ dòng tộc và gắn bó với ngƣời dân tại địa phƣơng đó.
Công chức chính quyền cấp xã là những ngƣời xuất phát từ cơ sở, họ vừa trực tiếp tham gia lao động sản xuất, vừa là ngƣời đại diện cho nhân 13 dân thực hiện chức năng quản lý nhà nƣớc, giải quyết các công việc của nhà nƣớc. Do vậy, xét ở khía cạnh nào đó, công chức cấp xã bị chi phối, ảnh hƣởng rất nhiều bởi những phong tục tập quán làng quê, những nét văn hóa bản sắc riêng đặc thù của địa phƣơng, của dòng họ. Thứ hai, sản phẩm hoạt động của công chức cấp xã là các quyết định quản lý hành chính có tác động sâu rộng đến đời sống kinh tế, xã hội và cục diện địa phƣơng. Vì vậy đòi hỏi ngƣời công chức phải có trình độ hiểu biết sâu rộng, có kỹ năng làm việc thuần thục trên lĩnh vực mà họ đảm nhiệm.
Thứ ba, công chức cấp xã của cả nƣớc hiện nay rất đông, tuy nhiên về chất lƣợng lại rất yếu, độ tuổi tƣơng đối già. Hơn nữa, trình độ chuyên môn, năng lực quản lý của đội ngũ chủ chốt chính quyền cơ sở chƣa đồng đều, mặt bằng chung còn thấp, chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu quản lý nhà nƣớc ở chính quyền cơ sở. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả giải quyết công việc của đội ngũ công chức cấp xã chƣa cao. Chất lượng công chức xã và nâng cao chất lượng công chức cấp xã 1.
Khái niệm chất lượng công chức cấp xã Chất lƣợng là một phạm trù trừu lƣợng, nó mang tính chất định tính và khó định lƣợng, chúng ta không thể cân đo đong đếm đƣợc. Dƣới mỗi cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về chất lƣợng cũng khác nhau. Theo từ điển tiếng Việt, chất lƣợng đƣợc xem là: “Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con ngƣời, một sự vật, một sự việc”. Đây là cách đánh giá một con ngƣời, một sự vật trong cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó.
Theo một cách hiểu khác thì: Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật để phân biệt nó với sự vật khác. Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính. Nó là cái 14 liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật”.tr 34] Chất lƣợng công chức cấp xã, có thể hiểu chất lƣợng của đội ngũ công chức là khả năng giải quyết các vấn đề thuộc tất cả các lĩnh vực, khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức, cá nhân (khách hàng) về cung ứng các dịch vụ hành chính.