CHƯƠNG 1:NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP TRONG KHU CÔNG NGHIỆP 1. Tổng quan về khu công nghiệp, doanh nghiệp trong khu công nghiệp 1. Khái niệm và đặc điểm khu công nghiệp Lịch sử hình thành và phát triển KCN của nhiều nước trên thế giới có những nét đặc thù khác nhau, tuỳ theo điều kiện mỗi nước, nhưng cho đến nay trên thế giới có hai mô hình phát triển KCN và vì thế, cũng hình thành hai khái niệm về KCN: Một là, theo nghĩa hẹp, KCN là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các xí nghiệp công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Hai là, theo nghĩa rộng, cho rằng KCN là danh từ chung để chỉ một khu vực lãnh thổ rộng, có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu thương mại, nhà ở.
Thực chất, KCN theo quan niệm này là khu hành chính kinh tế và dịch vụ. Các hình thức biểu hiện cụ thể của KCN như: Khu chế xuất, khu công nghệ kỹ thuật cao, khu công nghiệp tập trung. Khu chế xuất là một khu công nghiệp chuyên sản xuất phần lớn sản phẩm để xuất khẩu, có ranh giới hành chính rõ rệt, được hưởng một quy chế pháp lý và những ưu đãi đặc biệt, nhằm thu hút đầu tư nước ngoài để sản xuất, chế tạo hàng xuất khẩu và tiến hành các dịch vụ và hoạt động kinh tế hỗ trợ cho sản xuất hàng xuất khẩu và cho xuất khẩu. KCN tập trung là một khu vực tập trung công nghiệp trên một lãnh thổ nhất định.
Một KCN có thể là một cụm công nghiệp hoặc nhiều cụm công nghiệp. Khu công nghệ kỹ thuật cao, tập trung những DN công nghiệp thuộc những ngành nghề sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao và những cơ sở nghiên cứu khoa học công nghệ, nhờ đó quan hệ giữa nghiên cứu và ứng dụng triển khai được tổ chức có hiệu quả. Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ giới hạn việc phân tích KCN theo nghĩa hẹp. Theo nghĩa này, KCN chỉ giới hạn cho một khu vực có ranh giới địa lý xác định, tập trung các dự án sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ 5 cho sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống, trong KCN có thể thành lập các DN xuất khẩu.
KCN theo nghĩa trên cũng phù hợp với khái niệm về KCN được quy định trong Nghị định 29/2008/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 14/3/2008 quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế. “KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục theo quy định”. Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế - xã hội Khu công nghiệp là một hình thức tổ chức sản xuất công nghiệp mang tính khách quan gắn với phát triển vùng lãnh thổ một cách hợp lý, hiệu quả, có một vị trí quan trọng trong thực hiện chiến lược phát triển vùng, lãnh thổ. Trong điều kiện nền kinh tế ở các nước đang phát triển, sản xuất còn manh mún không tập trung, tính chuyên nghiệp chưa cao, tình trạng ô nhiễm môi trường và phá vỡ quy hoạch còn xảy ra, muốn CNH-HĐH cần thiết phải xây dựng các KCN tập trung.
Đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, thì KCN có những vai trò cơ bản sau: Một là, KCN đóng vai trò tiên phong trong sự nghiệp phát triển nền kinh tế quốc dân. - KCN được coi là nơi thử nghiệm chính sách kinh tế mới, tốt nhất, đặc biệt là các chính sách kinh tế đối ngoại và là đầu tầu tiên phong trong sự nghiệp phát triển kinh tế quốc dân. - KCN là trọng điểm kinh tế của địa phương, đóng góp nguồn thu lớn cho Ngân sách Nhà nước, mở mang các ngành nghề mới, tạo việc làm cho người lao động, thu hút nguồn lao động sẵn có ở địa phương.Việc xây dựng các KCN có thể làm thay đổi cả diện mạo một vùng kinh tế, tạo điều kiện để dân cư tiếp cận với một nền công nghiệp hiện đại, làm thay đổi tập quán sinh hoạt địa phương. Các KCN được xây dựng sẽ hình thành nên các khu dân cư, đô thị mới, kéo theo những dịch vụ mới cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng.
- Phát triển các KCN sẽ là đầu tầu tăng trưởng thúc đẩy các ngành khác phát triển. Đồng thời với sự xuất hiện của các KCN với nhiều ưu đãi, buộc các doanh nghiệp ngoài KCN sẽ phải tính toán đến hiệu quả kinh tế để chuyển vào trong KCN. Việc quy tụ các doanh nghiệp vào trong KCN sẽ hạn chế sự lãng phí đất, giúp cho 6 địa phương có thể tập trung nguồn vốn để phát triển các cơ sở hạ tầng trong các KCN, thu hút vốn đầu tư, giảm chi phí khai thác thị trường. Hai là, KCN là nơi tiếp nhận, chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu của khoa học công nghệ.
- Các KCN là nơi tiếp nhận chuyển giao và áp dụng có hiệu quả những thành tựu phát triển của khoa học công nghệ, áp dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh và dịch vụ. - Phát triển các KCN tập trung là phương thức tốt nhất, nhằm tập trung nguồn lực vào một ‘vùng lãnh thổ’, tạo ra cơ hội giúp cho các doanh nghiệp giảm thiểu các chi phí sản xuất, kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá và dịch vụ trên thị trường. Ba là, tạo hiệu quả về kinh tế xã hội. - Với những ưu đãi về giá thuê đất, về chính sách tài chính linh hoạt và các thủ tục đơn giản, thuận lợi sẽ là lợi thế cho các chủ đầu tư về giảm chi phí đầu tư, chi phí sản xuất kinh doanh và các chi phí hành chính khác.
- KCN phát triển sẽ tạo điều kiện dẫn dắt công nghiệp phụ trợ, các dịch vụ cần thiết từ dịch vụ công nghiệp, tài chính, ngân hàng, cung cấp nguyên liệu đến dịch vụ lao động trong KCN. Đồng thời, việc thu hút lao động tạo nên khu dân cư tập trung, hình thành các đô thị, thành phố công nghiệp, giúp phân bố và sử dụng có hiệu quả hơn các nguồn lực của địa phương. - Phát triển các KCN là biện pháp hữu hiệu nâng cao hiệu quả vốn đầu tư. Đối với Việt Nam do thiếu vốn, nên chưa cho phép cùng một lúc hoàn thiện toàn bộ cơ sở hạ tầng; vì vậy, việc xây dựng và phát triển các KCN là một giải pháp tốt nhằm tập trung nguồn lực vốn còn hạn hẹp vào một số khu vực trọng điểm, có nhiều lợi thế hơn các khu vực khác trên địa bàn lãnh thổ.
Bốn là, phát triển KCN sẽ tạo nhiều chỗ làm việc cho các khu vực có khu công nghiệp; mặt khác các KCN vừa là nơi du nhập kỹ thuật, công nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý, vừa là môi trường đào tạo những người quản lý có trình độ cao, có bản lĩnh và kinh nghiệm, những công nhân có tay nghề cao và tác phong công nghiệp. Do được tiếp xúc với những dây chuyền công nghệ tiên tiến với kỹ thuật cao nên buộc người lao động phải tự rèn luyện và không ngừng học hỏi nâng 7 cao trình độ để đáp ứng yêu cầu của sản xuất. Năm là, KCN hình thành và phát triển sẽ là cầu nối hội nhập kinh tế trong nước và kinh tế quốc tế. Sự hình thành và phát triển các KCN có tác dụng thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong nước, phát huy tác dụng lan toả, dẫn dắt.
Mặt khác, các KCN còn là nơi sản xuất hàng hoá xuất khẩu hướng ra thị trường thế giới, là cửa ngõ khai thông kinh tế trong nước với bên ngoài, góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Sáu là, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế. KCN hình thành và phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, làm tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp của cả nước và điạ phương có khu công nghiệp. KCN phát triển sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh của hàng hoá trên thị trường trong và ngoài nước, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ cho đất nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tái sản xuất mở rộng, đổi mới trang thiết bị, tích luỹ thêm kinh nghiệm, làm ăn có hiệu quả.
Bảy là, góp phần đảm bảo môi trường. Các KCN thường có nhà máy xử lý nước thải tập trung cho cả KCN, do vậy vấn đề môi trường sẽ được giải quyết. Đặc điểm của doanh nghiệp trong khu công nghiệp 1.1 Khái niệm doanh nghiệp trong khu công nghiệp Doanh nghiệp trong KCN được hiểu là các doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN và các cơ sở sản xuất kinh doanh hoạt động trong KCN. Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong KCN bao gồm: các DN sản xuất, các DN dịch vụ và các DN chế xuất.
- DN sản xuất: là doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu công nghiệp. - DN dịch vụ là DN thực hiện các công trình kết cấu hạ tầng khu công nghiệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp. - DN chế xuất là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động trong khu chế xuất hoặc doanh nghiệp xuất khẩu toàn bộ sản phẩm hoạt động trong khu công nghiệp, khu kinh tế. Ngoài các đối tượng trên, trong khu công nghiệp còn có các cơ sở sản xuất kinh 8 doanh thuộc quyền sở hữu của các DN được thành lập và hoạt động ngoài KCN.
Các DN này hoạt động kinh doanh trên nhiều lĩnh vực và có đầu tư xây dựng xí nghiệp hoặc nhà máy trong khu công nghiệp. Loại hình DN trong KCN: trong KCN thường đa dạng các loại hình doanh nghiệp: như DNVVN, doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, doanh nghiệp trong nước, doanh nghiệp 100% nước ngoài, doanh nghiệp hạch toán phụ thuộc.2 Đặc điểm của các doanh nghiệp trong khu công nghiệp Là một loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế, nên DN trong KCN có đặc điểm chung của tất cả các DN thông thường khác, bên cạnh đó còn có các đặc điểm: - Được quy hoạch tập trung vào một KCN nên thuận lợi về môi trường hoạt động, cơ sở hạ tầng đồng bộ, sẵn có. DN chỉ phải tập trung đầu tư vào sản xuất, kinh doanh và tiêu thụ hàng hoá.