CHƯƠNG 1 :CƠ SỞ LÝ LUẬN VE MO RỘNG DỊCH VỤ BAO LÃNH CUA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Hoạt động bảo lãnh của ngần hàng thương mai 1.1 Khái niệm bảo lãnh. Bảo lãnh được định nghĩa theo quy định tại Điều 355 Bộ luật dân sự như sau : “Bảo lãnh là việc Bên thứ ba (Bên bảo lãnh) cam kết với Bên có quyền (Bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho Bên có nghĩa vụ (Bên được bảo lãnh), nếu khi đến hạn mà Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ. Trong Pháp lệnh về Hợp đồng kinh tế: “Bảo lãnh tài sản là sự bảo đảm bằng tài sản thuộc quyền sở hữu của Bên nhận bảo lãnh dé chịu trách nhiệm tài sản thay cho Bên được bảo lãnh khi Bên này vi phạm hợp đồng kinh tế đã ký kết.” Như vậy, BL có thể hiểu “là sự cam kết của Bên nhận bảo lãnh sẽ thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ và quyền lợi nếu Bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng với Bên yêu cầu bảo lãnh”. Hoạt động thương mại trong thời gian qua ghi nhận sự phát triển mạnh và đa phần các giao dịch có giá trị trong phạm vi nội địa cũng như quốc tế hầu hết có sự đóng góp của bảo lãnh ngân hàng, Vậy “bảo lãnh ngân hàng” là gì ? Từ “Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNNI14 được ban hành ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Thống đốc NHNN”, “Thông tư số 07/2015/TT-NHNN ngày 25 tháng 06 năm 2015 của NHNN Việt Nam” và “Thông tư số 13/2017/TT-NHNN sửa đổi một số điều của Thông tư 07/2015/TT-NHNN” “Quy định về bảo lãnh ngân hàng” đã định nghĩa: “Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên bảo lãnh cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đây đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh; bên được bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho bên bảo lãnh”.
Trên khía cạnh học thuật, bảo lãnh ngân hàng được biết đến là một hình thức “tín dụng chữ ký”, là hoạt động không sử dụng đến vốn của Ngân hàng. Lớp : Ngân hàng 58B GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hà Chuyên đề tốt nghiệp Viện Ngân hàng — Tài chính Trên quan điểm của các chuyên gia kinh tế, các nhà kinh tế học trong hoạt động thương mại quốc tế, thì bảo lãnh ngân hàng được xem như là một loại hình tài trợ ngoại thương, mục đích dé phòng ngừa những tốn thất cho bên thụ hưởng nếu có bat kì vi phạm nào của bên đối tác. Từ định nghĩa về bảo lãnh ngân hàng được đưa ra ở trên, các chủ thể tham gia vào hoạt động Bảo lãnh gồm có ít nhất các bên sau : “Bên bảo lãnh”, “Bên nhận bảo lãnh”, “Bên được bảo lãnh”. Tại “Khoản 5, 6, 7 Điều 3 Thông tư 09/VBHN-NHNN quy định về bảo lãnh ngân hàng được ban hành ngày 06/10/2017” thì các bên tham gia BL được giải thích như sau: “Khoản 5.
Bên bảo lãnh: là tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện bảo lãnh cho bên được bảo lãnh. Trong trường hợp đồng bảo lãnh, bảo lãnh đối ứng và xác nhận bảo lãnh thì bên bảo lãnh gồm cả tô chức tín dụng ở nước ngoài. Bên được bảo lãnh là tổ chức (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hang nước ngoài, tô chức tín dụng ở nước ngoai), cá nhân được bảo lãnh bởi bên bảo lãnh, bên bảo lãnh đối ứng. Bên nhận bảo lãnh là tô chức (bao gồm cả tô chức tín dụng, chỉ nhánh ngân hàng nước ngoài, tô chức tín dụng ở nước ngoài), cá nhân có quyền hưởng thụ bảo lãnh do bên bảo lãnh, bên xác nhận bảo lãnh phát hành.” Bên cạnh đó, bảo lãnh ngân hàng có thể có sự tham gia của các bên liên quan như bên bảo lãnh đối ứng, bên xác nhận bảo lãnh và các bên khác (Nếu có) Trong bảo lãnh ngân hàng, dé hiểu rõ mối quan hệ giữa các chủ thé trước hết phải biết các hợp đồng sau đây “Hợp đồng kinh tế, Hợp đồng bảo lãnh hay Thư bảo lãnh”.
- “Hop dong kinh té” trong hoạt động bảo lãnh là “Hop đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh. Đây là hợp đồng chính của các giao dịch kinh tế như Hợp đồng vay vốn, Hợp đồng thương mại, Hop đồng thi công xây dung các công trình, Hợp đồng thiết kế. Từ hợp đồng chính được thỏa thuận giữa các bên mới phát sinh nhu cầu bảo lãnh” theo thukyluat.vn Theo “khoản 12 điều 3 thông tư 09/VBHN-NHNN Quy định về bảo lãnh ngân hàng” đã định nghĩa về “Hợp đồng bảo lãnh” và “Thư bảo lãnh” như sau: Lớp : Ngân hàng 58B GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hà Chuyên đề tốt nghiệp Viện Ngân hàng — Tài chính - “Hợp đồng bảo lãnh: Là văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh và các bên có liên quan (nếu có) về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh thì hợp đồng bảo lãnh bao gồm cả văn bản thỏa thuận giữa bên bảo lãnh đối ứng với bên bảo lãnh và các bên liên quan khác (nếu có), giữa bên xác nhận bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh và các bên liên quan khác (nếu có).
- Thư bảo lãnh là văn bản cam kết của bên bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tai chính thay cho bên được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp bảo lãnh đối ứng, xác nhận bảo lãnh thì thư bảo lãnh bao gồm cả văn bản cam kết của bên bảo lãnh đối ứng với bên bảo lãnh, bên xác nhận bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh”. Chúng ta cần hiểu rõ răng “hợp đồng bảo lãnh” và “hợp đồng kinh tế” độc lập với nhau. Như đã biết BLNH là dịch vụ mà Ngân hàng đứng ra cam kết hoàn trả các thiệt hại người thụ hưởng gánh chịu khi bên được bảo lãnh không thực hiện theo đúng hợp đồng đã kí kết giữa hai bên với các điều kiện điều khoản rõ ràng nhưng việc ngân hàng có thực hiện thanh toán thay cho người được bảo hay không lại phụ thuộc vào hợp đồng bảo lãnh.
Có thê hiểu một cách đơn giản là bên thụ hưởng không cần chứng minh với ngân hàng về việc bên được bảo lãnh vi phạm hợp đồng kinh tế mà theo quy định bảo lãnh thì họ chỉ cần lập các chứng từ cần thiết như đã quy định khi các điều kiện trong hợp đồng bảo lãnh thỏa mãn về mặt pháp lý. Bên cạnh đó trách nhiệm thanh toán của ngân hàng cũng không liên quan gì đến những thỏa thuận giữa hai bên trong hợp đồng kinh tế. Khi các điều kiện thanh toán được chứng minh là chính xác thì ngân hàng không có quyền viện cớ bất cứ lý do gì đề từ chối hoặc có thé hợp đồng kinh tế thay đổi cũng không ảnh hưởng gì đến hợp đồng bảo lãnh. Đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng Ngân hàng thương mại được biết là định chế tài chính đặc biệt, dẫn đến các sản phẩm của ngân hàng vì vậy cũng mang tính đặc thù.
Bảo lãnh là một dich vụ của 3 Lớp : Ngân hàng 58B GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hà Chuyên đề tốt nghiệp Viện Ngân hàng — Tài chính ngân hàng vì thế nó mang những đặc điểm bảo lãnh nói chung, lại vừa mang những nét riêng của hoạt động Ngân hàng. Dưới đây là những đặc điểm của nó: Thứ nhất, Bảo lãnh ngân hàng có mối quan hệ nhiều bên phụ thuộc lẫn nhau. Từ trong định nghĩa về bảo lãnh ngân hàng đã thê hiện rất rõ đặc điểm này, với sự tham gia của ít nhất ba bên: bên hưởng bảo lãnh, bên được bảo lãnh và bên bảo lãnh tương ứng với nó là ba loại hợp đồng bảo lãnh cần phân biệt rõ ràng: (1) Hợp đồng cung cấp hàng hóa dịch vụ: đây là hợp đồng ký kết giữa bên hưởng bảo lãnh và bên được bảo lãnh. (2) Hợp đồng bảo lãnh: bên được bảo lãnh.yêu cầu ngân hàng đứng ra bảo lãnh cho mình.
(3) Cam kết bảo lãnh: là cam kết đơn phương bằng văn bản của tổ chức tín dụng hoặc văn bản thỏa thuận giữa tô chức tín dụng, khách hàng được bảo lãnh với bên hưởng bảo lãnh về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghia vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên hưởng bảo lãnh. Thứ hai là bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập Tính độc lập là một đặc điểm quan trọng trong bảo lãnh ngân hàng, chính là sự độc lập về mặt pháp lý giữa hai mối quan hệ là ngân hàng với bên đựơc bảo lãnh và ngân hàng với bên thụ hưởng hay cũng chính là sự độc lập giữa hợp đồng bảo lãnh và hợp đồng kinh tế. Thư bảo lãnh thé hiện mối quan hệ giữa ngân hàng phát hành bảo lãnh với người thụ hưởng, trong đó ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam kết với người thụ hưởng. Như vậy mục đích của bảo lãnh là một cam kết đảm bảo cho giao dịch được thực hiện, nội dung của thư bảo lãnh không liên quan đến nội dung hợp đồng giữa bên bảo lãnh và bên hưởng bảo lãnh.
Ngoài ra, tính độc lập của bảo lãnh còn đựơc thé hiện trong trách nhiệm thanh toán của ngân hàng phát hành bảo lãnh. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với quan hệ giữa ngân hàng phát hành và bên được bảo lãnh. Việc thanh toán bảo lãnh chỉ hoàn toàn căn cứ vào quyền kháng nghị phát sinh trong hợp đồng chính. Nếu trong cam kết bảo lãnh có tham chiếu đến hợp đồng chính thì việc tham chiếu này cũng chỉ mang 4 Lớp : Ngân hàng 58B GVHD: PGS.TS Phan Thị Thu Hà Chuyên đề tốt nghiệp Viện Ngân hàng — Tài chính tính hình thức và xem xét bề mặt bên ngoài.
Khi các điều kiện bảo lãnh được tuân thủ, ngân hàng sẽ phải thanh toán mà không thể viện lý do dé từ chối hay trì hoãn.