Đặt vấn đề Kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng là một nhiệm vụ hết sức quan trọng, trong công tác quản lý môi trƣờng quốc gia, cũng nhƣ quản lý môi trƣờng ở mỗi địa phƣơng, nhằm mục đích theo dõi kịp thời ô nhiễm môi trƣờng, xác định đúng nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trƣờng và đề xuât kịp thời các giải pháp ngăn ngừa, giảm thiểu ô nhiễm và cải thiện chất lƣợng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ các hệ sinh thái và đảm bảo phát triển bền vững. Kiểm soát ô nhiễm bao gồm: kiểm soát các nguồn thải gây ra ô nhiễm (nguồn thải khí ô nhiễm, nguồn thải nƣớc ô nhiễm, nguồn thải chất rắn, nguồn thải tiếng ồn, nguồn thải bức xạ), kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng các ngành sản xuất công nghiệp, kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng xung quanh ở các khu đô thị, khu kinh tế, các làng nghề… và kiểm soát ô nhiễm (chất lƣợng) môi trƣờng không khí, môi trƣờng nƣớc biển, nƣớc mặt và nƣớc biển ven bờ. Thành phố Hạ Long là khu vực phát triển rất mạnh mẽ về kinh tế - xã hội, đặc biệt các ngành du lịch, giao thông vận tải biển (có Vịnh Hạ Long), khai thác than, các khu công nghiệp, đô thị hoá trên đất liền v. Các hoạt động này có những tác động không nhỏ tới vùng Vịnh Hạ Long.
Ảnh hƣởng và đe dọa trực tiếp là ô nhiễm môi trƣờng nƣớc vịnh do những nguồn thải từ trên đất liền và các hoạt động trên vịnh. Trong đó Vịnh Hạ Long có vai trò quan trọng trong việc điều hòa khí hậu và phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hạ Long. Tuy nhiên chất lƣợng nƣớc biển ven bờ vùng vịnh Hạ Long ngày càng có xu hƣớng bị ô nhiễm, gây ảnh hƣởng đến sự phát triển của ngành du lịch và đe dọa đến sự sinh tồn của các loài sinh vật biển. Vì vậy, việc nghiên cứu về chất lƣợng nguồn nƣớc và đƣa ra các giải pháp hiệu quả để giảm thiểu ô nhiễm là một vấn đề cấp thiết.
1 Với đề tài: “Kiểm soát ô nhiễm nước biển ven bờ thành phố Hạ Long, thực trạng và giải pháp” chúng tôi muốn góp phần nào đó để nâng cao chất lƣợng môi trƣờng cảnh quan thành phố Hạ Long nói chung và Vịnh Hạ Long nói riêng. Mục tiêu và nội dung nghiên cứu - Mục tiêu chung: Cải thiện công tác bảo vệ môi trƣờng liên quan đến thành phố Hạ Long hiện nay - Mục tiêu cụ thể: a) Đánh giá hiện trạng chất lƣợng và nguyên nhân gây ô nhiễm nƣớc biển ven bờ thành phố Hạ Long. b) Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực kiểm soát ô nhiễm nƣớc biển ven bờ thành phố Hạ Long. Nhằm đánh giá thực trạng ô nhiễm nƣớc biển ven bờ vịnh Hạ Long và xem xét, nghiên cứu hiện trạng công tác quản lý, kiểm soát ô nhiễm để tìm kiếm giải pháp phù hợp.
Đề tài này tập trung nghiên cứu các nội dung sau: - Hiện trạng ô nhiễm nƣớc biển ven bờ vịnh Hạ Long thuộc khu vực thành phố Hạ Long thông qua các thông số nhƣ dầu mỡ,. thuộc hiện trạng môi trƣờng tỉnh QN. - Hiện trạng công tác kiểm soát ô nhiễm môi trƣờng nƣớc biển ven bờ vịnh của các cơ quan quản lý nhà nƣớc có liên quan nhƣ Sở TNMT, Cánh sát MT. - Đề xuất 1 số giải pháp khả thi để quản lý tốt hơn môi trƣờng nƣớc biển ven bờ vịnh.: kỹ thuật, quản lý.
- Điều tra các nguồn chính gây ô nhiễm nƣớc biển ven bờ thành phố Hạ Long - Hiện trạng chất lƣợng nƣớc biển ven bờ thành phố Hạ Long - Đánh giá chất lƣợng nƣớc và diễn biến môi trƣờng nƣớc biển ven bờ thành phố Hạ Long - Nghiên cứu các giải pháp nâng cao công tác quản lý và đƣa ra các biện pháp xử lý, khắc phục môi trƣờng nƣớc biển ven bờ thành phố Hạ Long. - 2 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Kiểm soát ô nhiễm biển ven bờ 1.1 Khái niệm Biển ven bờ Theo Điều 4, chƣơng II, Nghị định của chính phủ số 123/2006/NÐ-CP ngày 27 tháng 10 năm 2006 về quản lý hoạt động khai thác thuỷ sản của tổ chức, cá nhân Việt Nam trên các vùng biển, thì Vùng biển ven bờ đƣợc tính từ bờ biển (ngấn nƣớc khi thuỷ triều thấp nhất) đến đƣờng nối liền các điểm cách bờ biển 24 hải lý (tƣơng đƣơng 44.448,0m), do Vịnh Hạ Long có nhiều đảo lớn nhỏ nên theo Quyết định ngày 6 - 8- 1998, UBND tỉnh Quảng Ninh số 2055/QĐ-UB về việc phân công trách nhiệm quản lý, thu gom, xử lý chất thải rắn trên Vịnh Hạ Long cho từng ban, ngành cụ thể, trong đó giao TP.Hạ Long đảm trách việc thu gom và xử lý rác thải trong phạm vi dải ven bờ cách mép nƣớc 500 m trở vào. Do đó, vùng biển ven bờ là vùng biển từ cách mép nƣớc 500m trở vào.2 Các yếu tố gây ô nhiễm biển ven bờ Theo UNEP (2000), trong những năm của thập kỷ 1990, tổng lƣợng chất thải độc hại trên toàn thế giới vào đại dƣơng khoảng 400 triệu tấn.
Trong đó, chủ yếu các chất thải có nguồn gốc từ các hoạt động công nghiệp trong đất liền nhƣ hóa chất, khai thác mỏ, chế biến, thuộc da, chiếm hơn 70%. và hoạt động hàng hải trên biển. Dựa vào nguồn gốc, có thể phân loại các chất thải nhƣ sau: - Các chất thải có nguồn gốc từ lục địa nhƣ chất thải công nghiệp và chất thải trong sinh hoạt tại các đô thị: 37% - Các chất xuất phát từ các hoạt động hàng hải: 33% - Các chất thải do sự cố tràn dầu: 12% - Ô nhiễm có nguồn gốc từ không khí: 9% - Ô nhiễm có nguồn gốc từ các nguồn tự nhiên khác: 7% - Ô nhiễm do hoạt động khai thác dầu khí: 2% 3 1. Vấn đề ô nhiễm biển ven bờ trên thế giới và Việt Nam 1.
Hiện trạng ô nhiễm nước biển ven bờ ở Việt Nam Vấn đề ô nhiễm nƣớc biển hiện nay đã và đang đƣợc quan tâm trên phạm vi toàn thế giới do ô nhiễm biển làm mất dần đi hệ sinh thái biển, tác động đến cuộc sống của con ngƣời thông qua việc làm giảm nguồn lợi thủy sản, và các nguồn tài nguyên khác từ biển, ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời khi tham gia các hoạt động thể thao, nghiên cứu và các hoạt động khác dƣới nƣớc và đặc biệt gây nguy cơ về các thiên tai do biển mất đi những khu vực đệm chắn sóng ven bờ nhƣ san hô v.v Các vấn đề về ô nhiễm hữu cơ cũng đặc biệt đƣợc nhiều khu vực, quốc gia quan tâm trong đó phải kể đến các chất hữu cơ nhƣ Polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs), polychlorinated biphenyls (PCBs), các loại thuốc trừ sâu cơ clo, polybrominated diphenyl ethers, phthalates and alkylphenols. Nghiên cứu tại khu vực ven biển Comunidad Valenciana của Tây Ban Nha cũng cho thấy các chất VOCs, thuốc trừ sâu cơ clo, phtalates và tributyltin (TBT) xuất hiện trong nƣớc biển và hàm lƣợng octylphenol, pentachlorobenzene, DEHP và TBT vƣợt quá hàm lƣợng trung bình hàng năm theo tiêu chuẩn chất lƣợng môi trƣờng (EQS-AAC) và hầu hết các chất ô nhiễm xác định đƣợc cũng có mặt trong nƣớc thải của các trạm xử lý [17]. Vùng biển Baltic khu vực Bắc Âu cũng phát hiện thấy các chất ô nhiễm hữu cơ độc hại bao gồm các chất hữu cơ bay hơi (VOC), các chất halogen hữu cơ bay hơi (VOX), chlorophenols, phenoxyacids, polychlorinated biphenyls (PCBs) and polycyclic aromatic hydrocarbons (PAHs) trong khoảng thời gian từ 1996 – 2001. Nồng độ của VOX trong khoảng từ một vài ng/dm3 đến 250 ng/dm3.
Nồng độ trung bình của chlorophenols and phenoxyacids trong khoảng từ 0,1 và 6,0 và 0,05 and 2,2ug/dm3[18]. Nồng độ kim loại (Cr, Cu, Fe, Mn, Pb và Zn) trong nƣớc biển khu vực bến cảng Brest Harbour thuộc vùng Tây Bắc Nƣớc Pháp đạt tới nồng độ xấp xỉ 7 mg/l đối với Mn, 60 mg/l đối với Zn giải phóng ra từ trầm tích do sự ô nhiễm axit trong khu vực. [16] 4 Vùng ven biển Tỉnh Hà Bắc, phía tây biển Bột Hải, Trung Quốc cũng đã phát hiện các chất ô nhiễm từ các hoạt động trên đất liền. Thông qua chỉ số ô nhiễm hữu cơ, chỉ số phú dƣỡng, nồng độ phosphate và nhu cầu oxy hóa để đánh giá các điều kiện chất lƣợng nƣớc.
Kết quả cho thấy rằng ô nhiễm là trong mùa khô nặng hơn nhiều so với mùa lũ năm 2006. Dựa trên COD và nồng độ phosphate, kết quả cho thấy vùng biển gần sông Shahe, sông Douhe, sông Yanghe, và Luanhe sông đã bị ô nhiễm nặng nề. Hiện trạng ô nhiễm nước biển ven bờ ở Việt Nam Việt Nam cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học và các bài báo về vấn đề ô nhiễm biển từ các hoạt động trong bờ đặc biệt là ô nhiễm các chất hữu cơ. Dấu hiệu bị ô nhiễm thể hiện ở các vùng nƣớc ven bờ bởi các tác nhân nhƣ dầu, kẽm, và chất thải sinh hoạt.
Các chất rắn lơ lửng, NH4 và PO4 cũng ở mức đáng lo ngại. Hàm lƣợng hoá chất bảo vệ thực vật chủng anđrin và enđrin trong các mẫu sinh vật đáy ở các vùng cửa sông ven biển phía bắc đều cao hơn giới hạn cho phép. Đa dạng sinh học động vật đáy ở ven biển miền bắc và thực vật nổi ở miền trung suy giảm rõ rệt. Lƣợng hoá chất bảo vệ thực vật tồn lƣu trong cơ thể các loài thân mềm hai mảnh vỏ đƣợc xác định cao nhất là tại Sầm Sơn và cửa Ba Lạt (11,14- 11.83 mg/kg thịt ngao), thấp nhất là tại Trà Cổ (1,54 mg/kg).
Các chất anđrin, enđrin, đienđrin, đặc biệt là anđrin và enđrin có hầu hết ở các mẫu phân tích, biến đổi từ 0,12 đến 3,11 mg/kg.[1] Nƣớc biển của một số khu vực có biểu hiện bị axit hoá do độ pH trong nƣớc biển tầng mặt biến đổi trong khoảng 6,3-8,2. Nƣớc biển ven bờ có biểu hiện bị ô nhiễm bởi chất hữu cơ, kẽm, một số chủng thuốc bảo vệ thực vật. Hiện tƣợng thuỷ triều đỏ xuất hiện tại vùng biển nam trung bộ, đặc biệt tại Khánh Hoà, Ninh Thuận, Bình Thuận làm chết các loại tôm cá đang nuôi trồng tại vùng này. Chất lƣợng môi trƣờng biển thay đổi dẫn đến nơi cƣ trú tự nhiên của loài bị phá huỷ gây tổn thất lớn về đa dạng vùng bờ.
Có khoảng 85 loài hải sản có mức độ nguy cấp khác nhau và trên 70 loài đã đƣợc đƣa vào sách đỏ Việt Nam. Hiệu suất khai 5 thác hải sản giảm rõ rệt, thêm vào đó, tình trạng dùng các ngƣ cụ đánh bắt có tính chất huỷ diệt diễn ra khá phổ biến nhƣ xung điện, chất nổ, đèn cao áp quá công suất cho phép… làm cạn kiệt các nguồn lợi hải sản ven bờ.