Tổng quan nghiên cứu

Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng Nông thôn mới là chủ trương chiến lược của Đảng và Nhà nước nhằm thay đổi diện mạo kinh tế, xã hội và nâng cao đời sống của cư dân nông thôn. Tại huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên, tốc độ tăng trưởng kinh tế khu vực nông thôn đạt mức bình quân ấn tượng 13,9%/năm, thu nhập bình quân đầu người năm 2018 đạt 55 triệu đồng/người/năm. Địa phương đã đạt được những bước tiến vượt bậc với 9/10 xã hoàn thành chuẩn nông thôn mới. Tuy nhiên, việc hoàn thành tiêu chí cho 1 xã còn lại cũng như nâng cấp toàn diện các xã lên chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu đang đối mặt với bài toán nan giải về nguồn vốn đầu tư.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là diện tích đất nông nghiệp của huyện đang thu hẹp với tốc độ giảm bình quân 0,82%/năm, từ 4.427,5 ha năm 2016 xuống còn 4.355,16 ha năm 2018 do quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Đông tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam tập trung phân tích thực trạng, nhận diện các rào cản và đánh giá toàn diện các yếu tố tác động đến quá trình huy động vốn trên địa bàn 11 xã, thị trấn thuộc huyện Văn Giang trong giai đoạn 2016-2018.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu thể hiện qua việc đánh giá cơ cấu tổng nguồn vốn huy động đạt 236,85 tỷ đồng. Trong đó, nghiên cứu chỉ rõ sự phụ thuộc lớn vào ngân sách nhà nước khi nguồn vốn này chiếm tới 71,85% (tương đương 170,17 tỷ đồng). Đề tài xác lập cơ sở khoa học để tái cơ cấu dòng vốn, giảm áp lực cho ngân sách công và thiết lập lộ trình huy động vốn bền vững cho giai đoạn 2019-2025.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết tài chính công về phân bổ nguồn lực và mô hình phát triển cộng đồng dựa vào nội lực (Community-Driven Development). Công trình tích hợp các bài học kinh nghiệm quốc tế điển hình, tiêu biểu là phong trào Saemaul Undong của Hàn Quốc với cơ chế Nhà nước hỗ trợ ban đầu 20-25% bằng vật tư và cộng đồng đóng góp đối ứng 75-80% bằng tiền và ngày công. Bên cạnh đó, mô hình Mỗi làng một sản phẩm (OVOP) tại Nhật Bản được vận dụng nhằm xây dựng quỹ rủi ro với tỷ lệ đóng góp 70% từ chính phủ và 30% từ người dân.

Về mặt lý luận, luận văn làm rõ 3 khái niệm trọng tâm: nông thôn mới theo Quyết định số 1600/QĐ-TTg với 19 tiêu chí thuộc 5 nhóm lĩnh vực; nguồn lực tài chính nông thôn gồm quỹ ngân sách, vốn tín dụng, vốn đầu tư doanh nghiệp và đóng góp hộ gia đình; cơ chế huy động vốn đa kênh thông qua phân cấp quản lý và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp chặt chẽ giữa nguồn dữ liệu thứ cấp và sơ cấp để đảm bảo tính chuẩn xác:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các niên giám thống kê huyện Văn Giang, báo cáo tổng kết của Ủy ban nhân dân huyện, Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng số liệu quản lý 7.183 ha đất đai giai đoạn 2016-2018.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Tiến hành khảo sát thực địa với cỡ mẫu 120 phiếu điều tra, bao gồm 90 hộ gia đình nông thôn, 20 cán bộ chuyên trách cấp xã/huyện và 10 doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên giữa các xã đã đạt chuẩn và xã đang trong lộ trình phấn đấu, giúp thu thập góc nhìn đa chiều về khả năng đóng góp của các tầng lớp dân cư.
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê và phân tích so sánh chuỗi thời gian 3 năm (2016-2018). Lý do lựa chọn hệ phương pháp này là nhằm làm rõ mối tương quan giữa thu nhập hộ gia đình với mức độ sẵn sàng đóng góp, đồng thời chỉ ra sự dịch chuyển cơ cấu giữa các nguồn vốn một cách trực quan, khoa học.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tổng nguồn vốn huy động xây dựng nông thôn mới tại huyện Văn Giang giai đoạn 2016-2018 đạt 236,85 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước các cấp đóng vai trò chủ đạo với 170,17 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng áp đảo 71,85%. Nguồn vốn lồng ghép từ các chương trình, dự án đạt 22,36 tỷ đồng, chiếm 9,44%.

Thứ hai, mức độ tham gia của khu vực kinh tế tư nhân và người dân còn hạn chế. Nguồn vốn huy động từ các hộ gia đình chỉ đạt 15,98 tỷ đồng, chiếm 6,75% tổng nguồn lực. Đáng chú ý, nguồn vốn đóng góp trực tiếp từ cộng đồng doanh nghiệp đạt mức rất khiêm tốn là 3,54 tỷ đồng, chỉ chiếm 1,50%, phần còn lại là các nguồn vốn hợp pháp khác đạt 24,80 tỷ đồng, tương đương 10,47%.

Thứ ba, sự thay đổi cơ cấu sử dụng đất tác động sâu sắc đến nguồn thu địa phương. Trong giai đoạn 3 năm khảo sát, diện tích đất nông nghiệp giảm 72,34 ha, đất phi nông nghiệp tăng lên 2.825,84 ha, chiếm 39,35% tổng diện tích tự nhiên. Diện tích đất nông nghiệp bình quân trên mỗi hộ giảm từ 290,93 m2 năm 2016 xuống 275,50 m2 năm 2018, thúc đẩy nguồn thu từ đấu giá đất nhưng tạo ra thách thức lớn về bảo đảm sinh kế dài hạn cho nông dân.

Thảo luận kết quả

Thực trạng tỷ trọng vốn ngân sách chiếm tới 71,85% cho thấy tính chủ động nội tại của địa phương chưa được kích hoạt tối đa, người dân và doanh nghiệp tại một số xã vẫn còn tâm lý trông chờ vào nguồn lực cấp trên. Nguyên nhân sâu xa xuất phát từ việc năng lực quản lý tài chính ở cấp xã chưa theo kịp thực tế; trước khi triển khai chương trình, mỗi xã chỉ quản lý khoảng 1 tỷ đồng vốn đầu tư mỗi năm, nhưng khi thực hiện nông thôn mới phải điều hành dòng vốn hàng chục tỷ đồng.

Khi đối chiếu với bài học kinh nghiệm từ huyện Đan Phượng (thành phố Hà Nội) - nơi huy động được gần 2.000 tỷ đồng với sự tham gia của người dân hơn 200 tỷ đồng và doanh nghiệp gần 100 tỷ đồng, Văn Giang rõ ràng chưa phát huy hết tiềm năng kinh tế làng nghề hoa cây cảnh và vị trí cửa ngõ tiếp giáp Thủ đô.

Để làm nổi bật các phát hiện này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ tròn thể hiện cơ cấu 5 nguồn vốn năm 2018, kết hợp cùng bảng thống kê so sánh tăng trưởng nguồn thu giai đoạn 2016-2018. Cách trình bày này giúp các cấp quản lý dễ dàng nhận diện điểm nghẽn tài chính để đưa ra quyết sách điều chỉnh kịp thời.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu giai đoạn 2019-2025, huyện Văn Giang cần triển khai đồng bộ 4 nhóm giải pháp tài chính mang tính đột phá:

Thứ nhất, cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư công và tăng cường phân cấp ngân sách. Ủy ban nhân dân huyện chỉ đạo Phòng Tài chính - Kế hoạch tối ưu hóa các khoản thu từ đấu giá quyền sử dụng đất và thuế xây dựng, phấn đấu nâng tỷ trọng tự cân đối ngân sách địa phương phục vụ hạ tầng lên mức trên 45% tổng chi đầu tư phát triển trong giai đoạn 2019-2021.

Thứ hai, kiến tạo cơ chế thu hút vốn đầu tư từ doanh nghiệp và hợp tác xã. Phòng Kinh tế và Hạ tầng chủ trì xây dựng danh mục dự án xã hội hóa hạ tầng nông thôn, áp dụng hình thức đối tác công tư đối với các công trình cấp nước sạch, xử lý rác thải và chợ dân sinh. Mục tiêu đặt ra là nâng tỷ trọng vốn đóng góp của doanh nghiệp từ mức 1,50% hiện nay lên tối thiểu 10-15% tổng nguồn vốn, đạt giá trị trên 50 tỷ đồng trong giai đoạn 2020-2023.

Thứ ba, mở rộng quy mô huy động vốn đóng góp tự nguyện từ cộng đồng dân cư. Ủy ban nhân dân các xã phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc thực hiện triệt để quy chế dân chủ cơ sở theo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Các xã cần đa dạng hóa hình thức huy động bằng hiến đất làm đường giao thông, góp ngày công lao động và vật liệu xây dựng, mục tiêu đạt trên 30 tỷ đồng giá trị quy đổi từ cộng đồng trong giai đoạn 2019-2025.

Thứ tư, đẩy mạnh liên kết vốn tín dụng phục vụ chuyển đổi mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Ngân hàng Chính sách xã hội huyện triển khai các gói tín dụng ưu đãi lãi suất, đặt mục tiêu giải ngân dư nợ xây dựng nông thôn mới vượt 300 tỷ đồng, hỗ trợ trên 1.500 hộ nông dân mở rộng vùng chuyên canh hoa, cây cảnh giá trị cao từ năm 2020 đến 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham khảo chuyên sâu và cung cấp giải pháp ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cán bộ quản lý Nhà nước và Ban chỉ đạo Nông thôn mới cấp huyện, xã: Cung cấp khung phương pháp đánh giá nguồn lực tài chính, quy trình lập dự toán và 3 bước công khai minh bạch tài chính tại 11 xã, thị trấn nhằm triển khai hiệu quả chương trình nông thôn mới nâng cao.
  2. Các nhà hoạch định chính sách kinh tế nông nghiệp: Cung cấp bức tranh thực tế về sự mất cân đối khi ngân sách nhà nước chiếm 71,85%, từ đó làm căn cứ điều chỉnh cơ chế hỗ trợ kích hoạt vốn đối ứng ngoài ngân sách tại khu vực Đồng bằng sông Hồng.
  3. Doanh nghiệp và các tổ chức tín dụng nông thôn: Nhận diện rõ các cơ hội đầu tư hạ tầng theo phương thức xã hội hóa và thị trường cho vay phát triển kinh tế hộ trên quy mô hơn 4.355 ha đất nông nghiệp chuyên canh.
  4. Học viên, giảng viên và nghiên cứu sinh ngành Quản lý kinh tế: Cung cấp hệ thống lý luận vững chắc, phương pháp chọn mẫu phân tầng 120 đối tượng và bộ số liệu chuỗi thời gian 3 năm (2016-2018) phục vụ công tác giảng dạy, nghiên cứu học thuật.

Câu hỏi thường gặp

Tổng nguồn vốn huy động xây dựng nông thôn mới tại huyện Văn Giang đạt bao nhiêu?

Tổng nguồn vốn huy động trên địa bàn huyện trong giai đoạn 2016-2018 đạt 236,85 tỷ đồng. Trong đó, ngân sách nhà nước giữ vai trò chủ lực với 170,17 tỷ đồng (chiếm 71,85%), nguồn vốn lồng ghép đạt 22,36 tỷ đồng, vốn người dân đạt 15,98 tỷ đồng, vốn doanh nghiệp đạt 3,54 tỷ đồng và các nguồn hợp pháp khác là 24,80 tỷ đồng.

Vì sao tỷ trọng vốn đóng góp của doanh nghiệp tại Văn Giang chỉ đạt 1,50%?

Tỷ trọng vốn doanh nghiệp chỉ đạt 3,54 tỷ đồng (1,50%) do địa phương chưa có cơ chế ưu đãi đầu tư hạ tầng nông nghiệp đủ hấp dẫn. Các thủ tục hành chính, giải phóng mặt bằng còn phức tạp khiến doanh nghiệp ngần ngại tham gia các dự án công cộng có thời gian hoàn vốn kéo dài như chợ, nước sạch và bến bãi.

Sự suy giảm diện tích đất nông nghiệp ảnh hưởng như thế nào đến nguồn lực tài chính?

Diện tích đất nông nghiệp giảm từ 4.427,5 ha năm 2016 xuống 4.355,16 ha năm 2018 (giảm bình quân 0,82%/năm) giúp tăng quỹ đất phi nông nghiệp lên 2.825,84 ha, tạo nguồn thu đột biến từ đấu giá đất cho ngân sách. Tuy nhiên, việc diện tích canh tác bình quân giảm còn 275,50 m2/hộ đòi hỏi phải chuyển dịch mạnh sang nông nghiệp công nghệ cao để bảo đảm thu nhập bền vững cho nông dân.

Bài học nào từ phong trào Saemaul Undong Hàn Quốc có thể áp dụng cho Văn Giang?

Đó là nguyên tắc phát huy nội lực cộng đồng với tỷ lệ đối ứng vốn từ nhân dân 75-80%, Nhà nước chỉ hỗ trợ 20-25% bằng vật tư xi măng, sắt thép. Văn Giang có thể vận dụng phương thức này để xóa bỏ tư tưởng ỷ lại, trao quyền tự quyết cho người dân trong việc lựa chọn, thi công và giám sát công trình thôn xóm.

Giải pháp nào giúp 1 xã còn lại của huyện về đích nông thôn mới và tiến lên chuẩn kiểu mẫu?

Giải pháp then chốt là đẩy mạnh lồng ghép 22,36 tỷ đồng từ các chương trình mục tiêu quốc gia với nguồn vốn vay chính sách trên 300 tỷ đồng. Song song đó, xã cần huy động đóng góp tự nguyện từ 100% hộ dân thông qua hình thức hiến đất mở rộng đường và tăng cường tính minh bạch trong quản lý thu chi.

Kết luận

  • Luận văn đã đánh giá toàn diện bức tranh huy động 236,85 tỷ đồng phục vụ xây dựng nông thôn mới tại huyện Văn Giang, đóng góp trực tiếp vào thành tựu 9/10 xã đạt chuẩn nông thôn mới đến năm 2018.
  • Nghiên cứu chỉ ra điểm nghẽn cấu trúc lớn nhất là sự mất cân đối nguồn vốn khi ngân sách công chiếm tới 71,85%, trong khi đóng góp từ doanh nghiệp (1,50%) và hộ gia đình (6,75%) chưa tương xứng với tiềm năng kinh tế địa phương.
  • Đóng góp khoa học cốt lõi của công trình là hệ thống hóa khung cơ chế huy động vốn đa kênh và đề xuất 4 nhóm giải pháp tài chính mang tính khả thi cao, phù hợp với đặc thù vùng ven đô thị đang công nghiệp hóa nhanh.
  • Lộ trình giai đoạn 2019-2025 đặt mục tiêu tái cơ cấu dòng tiền, nâng tỷ trọng vốn ngoài ngân sách lên 35-40%, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và đưa 100% các xã trên địa bàn đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.
  • Chính quyền địa phương các cấp, hệ thống ngân hàng và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng phối hợp triển khai các mô hình hợp tác công tư minh bạch, tạo động lực tài chính vững chắc thúc đẩy phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững.