CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm và vai trò của Văn hóa doanh nghiệp 1.1 Khái niệm về Văn hóa doanh nghiệp Trong nền kinh tế thị trường và xu hướng toàn cầu hóa, sức cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt buộc các doanh nghiệp để tồn tại và phát triển phải liên tục tìm tòi những cái mới, sáng tạo và thay đổi cho phù hợp với thực tế. Văn hóa doanh nghiệp là yếu tố giúp doanh nghiệp trở thành nơi tập hợp, phát huy và kết nối mọi nguồn lực con người. Chính điều này đòi hỏi doanh nghiệp phải xây dựng và duy trì một nền văn hoá đặc thù phát huy được năng lực và thúc đẩy sự đóng góp của toàn thể nhân viên vào mục tiêu chung của tổ chức. Vì vậy có thể khẳng định văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của mỗi doanh nghiệp.
Do đó Văn hóa doanh nghiệp là một chủ đề được nhiều đối tượng quan tâm nghiên cứu bằng nhiều định nghĩa khác nhau: Tổ chức lao động quốc tế (ILO) thì định nghĩa “VHDN như là một sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, tiêu chuẩn, thói quen, truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất với một tổ chức đã biết” (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009). Còn theo chuyên gia nghiên cứu các tổ chức Edgar H. Schein, ông định nghĩa: “Văn hóa tổ chức là một dạng của những giả định cơ bản, được sáng tạo, khám phá, phát triển và tích lũy thông qua giải quyết các vấn đề mà tổ chức gặp phải trong quá trình thích ứng với môi trường bên ngoài và hội nhập môi trường bên trong. Các giả định cơ bản này đã được xác nhận qua thời gian, vì thế nó được truyền đạt cho những thành viên mới như là một cách thức đúng đắn để nhận thức, suy nghĩ và định hướng giải quyết mọi vấn đề” (Schein, 2012).
Ở Việt Nam, cũng có nhiều tác giả nghiên cứu và tổng hợp đưa ra các khái niệm về văn hóa doanh nghiệp như: Vận dụng các khái niệm của văn hóa vào trong doanh nghiệp, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường toàn cầu hoá ngày nay, Tác giả Nguyễn Mạnh Quân đưa ra định nghĩa VHDN về bản chất như sau: “Văn hóa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 doanh nghiệp là sự tổng hợp của mọi phương thức hoạt động cùng với biểu hiện của nó mà một tổ chức, doanh nghiệp đã sáng tạo ra nhằm thích ứng với những yêu cầu môi trường hoạt động và đòi hỏi của sự cạnh tranh” (Nguyễn Mạnh Quân (2011), Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty). Dương Thị Liễu (2009) cho rằng: “Văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ giá trị tinh thần mang đặc trưng riêng biệt của doanh nghiệp có tác động tới tình cảm, lý trí và hành vi của tất cả thành viên trong doanh nghiệp”. Đỗ Thị Phi Hoài (2009) định nghĩa VHDN như sau: “VHDN là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, cách nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên trong doanh nghiệp đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của từng thành viên trong hoạt động kinh doanh, tạo nên bản sắc kinh doanh của doanh nghiệp đó”. Như vậy, Văn hoá doanh nghiệp có thể được hiểu là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích chung.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả xem VHDN như Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả quan niệm: “Văn hóa doanh nghiệp là hệ thống các giá trị tinh thần và vật chất tạo nên bản sắc của doanh nghiệp, được doanh nghiệp tạo ra trong quá trình hình thành, phát triển và trong mối quan hệ tương tác với môi trường xã hội, tự nhiên, đồng thời có tác động tới nhận thức, hành vi của các thành viên trong doanh nghiệp”.2 Vai trò của Văn hóa doanh nghiệp Qua quá trình khảo sát và ứng dụng văn hóa doanh nghiệp vào thực tiễn, văn hóa doanh nghiệp đã chứng minh được vai trò to lớn tại nhiều quốc gia. Quá trình toàn cầu hóa kéo theo sự thay đổi của các quốc gia, các danh nghiệp để tồn tại và phát triển bền vững thì mỗi doanh nghiệp cần phải hình thành một giá trị văn hóa LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Tuy nhiên không phải văn hóa doanh nghiệp nào cũng có vai trò đối với hoạt động của doanh nghiệp, không phải văn hóa nào cũng tác động tích cực đến doanh nghiệp. Chỉ có những doanh nghiệp có nét văn hóa mạnh và phù hợp mới có thể phát huy hết vai trò chức năng của doanh nghiệp để thúc đẩy quá trình sản xuất và kinh doanh phát triển lâu dài trong tương lai.
Vai trò của VHDN thể hiện ở nhiều phương diện như sau: VHDN là công cụ triển khai chiến lược (Nguyễn Mạnh Quân (2011), Đạo đức kinh doanh và văn hoá công ty). Để phát triển, doanh nghiệp cần cụ thể hóa định hướng kinh doanh bằng định hướng về thị trường mục tiêu (khác hàng, nhu cầu, thị trường và lĩnh vực hoạt động chủ yếu) và định hướng sản xuất (chính sách sản phẩm, giá cả, chất lượng, dịch vụ và lợi thế cạnh tranh). Các giá trị và triết lý trong tổ chức, doanh nghiệp lựa chọn làm chuẩn mực chung cho mọi thành viên tổ chức để phấn đấu hoàn thành, cho những người hữu quan bên ngoài sử dụng để phán xét và đánh giá về tổ chức. Tất cả các giá trị và triết lý đó chính là những yếu tố văn hóa mà công ty đã xây dựng để hướng dẫn các thành viên thực hiện các nhiệm vụ khác nhau về cùng một định hướng của tổ chức VHDN tạo nên bản sắc riêng của DN.
Đặc trưng, bản sắc của từng DN được hình thành từ nhiều yếu tố cấu thành VHDN như các tập tục, lễ nghi, thói quen, hành vi ứng xử, triết lý kinh doanh, v.v… Nó được hình thành và tồn tại lâu dài cùng với sự phát triển của một DN. Tất cả những đặc trưng riêng biệt đó giúp phân biệt giữa các DN và nhất là giúp khẳng định tên tuổi, địa vị của DN trong lòng khách hàng và công chúng. VHDN tạo nên một cam kết chung vì mục tiêu và giá trị của DN. Vì VHDN là một hệ thống kiểm soát nhận thức hướng về những giá trị chung của DN nên vai trò của VHDN là xác định ranh giới hành xử cho thành viên trong DN theo đúng giá trị cốt lõi của DN đó.
Với một DN có văn hóa mạnh, phù hợp với định hướng chiến lược SXKD sẽ tạo được một lực hút vô cùng lớn đối với từng cá nhân trong DN. Nhân viên sẽ hết lòng trung thành và tận tâm với DN khi mục tiêu, lý tưởng của DN cũng chính là mục tiêu, lý tưởng của họ (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 VHDN tạo ra lợi thế cạnh tranh. Một doanh nghiệp sẽ tạo được sự thống nhất, giảm thiểu rủi ro, tăng cường phối hợp và giám sát, thúc đẩy động cơ làm việc của nhân viên, tăng hiệu suất và hiệu quả khi xây dựng được một văn hóa mạnh.
Từ đó, tăng được sức cạnh tranh và khả năng thành công của DN trên thị trường. VHDN tạo động cơ làm việc, khuyến khích sự sáng tạo của các cá nhân trong DN (Dương Thị Liễu và cộng sự, 2009). Thật ra, vai trò này cũng là hệ quả từ vai trò thứ hai nêu trên. Đó là sự cam kết chung, sự đam mê vì mục tiêu của DN cũng là mục tiêu của từng thành viên trong DN.
Khi đó mỗi người đều có động cơ làm việc từ chính nhu cầu của mình, không phải vì những quy định ràng buộc từ phía DN.3 Các cấp độ của VHDN Schein (2012) đưa ra mô hình 3 cấp độ văn hoá doanh nghiệp, bao gồm: Cấu trúc văn hoá hữu hình, những giá trị được thống nhất và những ngầm định cơ bản (hình 1. Cấp độ một: Cấu trúc văn hoá hữu hình (Artifacts): bao gồm tất cả những hiện tượng và sự vật mà một người có thể nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận khi lần đầu tiên tiếp xúc với doanh nghiệp. Cấp độ hai: Những giá trị được thống nhất (Espoused Values): bao gồm những giá trị, chiến lược, triết lý chung được thống nhất, tán thành trong đông đảo người lao động và lãnh đạo doanh nghiệp. Cấp độ ba: Những ngầm định cơ bản (Basic Underlying Assumptions) bao gồm những nhận thức, niềm tin, suy nghĩ, tình cảm chung được chia sẻ, ăn sâu trong tiềm thức, tâm lý của các thành viên doanh nghiệp và trở thành điều mặc nhiên được công nhận.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả sẽ dựa trên mô hình văn hóa doanh nghiệp của Edgar H.Schein để phân tích các biểu hiện của VHDN Provimi VN ở thời điểm hiện tại. Với những doanh nghiệp nào càng thỏa mãn đầy đủ và ở LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 mức độ cao các cấp độ văn hóa thì VHDN tại những đơn vị đó càng hoàn thiện và có tác động tích cực đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Mô hình ba cấp độ VHDN của Edgar H.Schein (2012) Cấp độ một: Cấu Cấp độ hai: Những Cấp độ ba: Những trúc văn hoá hữu hình giá trị được thống nhất ngầm định cơ bản Kiến trúc, trang phục, Sứ mệnh, tầm nhìn, triết Nhận thức, niềm tin phương tiện lý kinh doanh Cách thức đánh giá, nhìn Lễ nghi, sự kiện Chiến lược, sách lược nhận về con người, đồng Cơ cấu tổ chức của Quy định, quy chế, quy nghiệp doanh nghiệp tắc Triết lý sống và làm việc Biểu tượng, logo, khẩu Hệ giá trị được công bố hiệu (chuẩn mực hành vi) Câu chuyện, giai thoại Hình 1.1 Mô hình ba cấp độ VHDN của Edgar H.4 Các biểu hiện của VHDN Văn hoá doanh nghiệp thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, đa dạng tuỳ theo sự sáng tạo và chăm chút của mỗi doanh nghiệp.Schein các cấp độ văn hóa biểu hiện như sau: Cấp độ 1: Cấu trúc văn hóa hữu hình Cấu trúc văn hóa hữu hình là biểu trưng được thiết kế để dễ nhận biết bằng các giác quan (nhìn thấy, nghe thấy hoặc sờ thấy).