phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về công tác quản trị nhân sự trong khách sạn Chƣơng 2: Thực trạng công tác quản trị nhân sự tại khách sạn Nam 3 Cƣờng - Hải Phòng Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng phát triển và các giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nhân sự tại khách sạn Nam Cƣờng - Hải Phòng Kết luận Tài liệu tham khảo Phụ lục 4 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN SỰ TRONG KHÁCH SẠN 1. Quản trị nhân sự 1. Khái niệm quản trị nhân sự Nhân sự là một trong các nguồn lực quyết định sự tồn tại, phát triển của bất kỳ doanh nghiệp nào. Vì vậy vấn đề quản trị nhân sự luôn đƣợc quan tâm hàng đầu.
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về quản trị nhân sự: Có quan điểm cho rằng: “Quản trị nhân sự là tất cả các hoạt động, chính sách và các quyết định quản lý liên quan có ảnh hƣởng đến mối quan hệ giữa doanh nghiệp và nhân viên của nó”. Theo Lƣu Trọng Tấn (2014), “Quản trị nhân sự là những hoạt động nhằm tăng cƣờng những đóng góp có hiệu quả của cá nhân và mục tiêu của tổ chức trong khi đồng thời cố gắng đạt đƣợc những mục tiêu của cá nhân”. Ivancevich ( 2000 - Quản trị học) thì: quản trị nhân sự là một quá trình thực hiện và mục tiêu của tổ chức bằng cách tuyển mộ, giữ lại, chấm dứt, phát triển và sử dụng hợp lý nhân sự trong tổ chức. Ngày nay, trong một nền kinh tế chuyển đổi nhƣ của Việt Nam, nơi trình độ công nghệ, kỹ thuật còn ở mức thấp, kinh tế chƣa ổn định và nhà nƣớc chủ trƣơng “quá trình phát triển thực hiện bằng con ngƣời và vì con ngƣời ”, thì theo Trần Kim Dung (2005 – Quản trị nguồn nhân lực) cho rằng:“ quản trị nhân sự là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo - phát triển và duy trì con ngƣời của một tổ chức nhằm đạt đƣợc kết quả tối ƣu cho cả tổ chức lẫn nhân viên”.Các hoạt động chủ yếu của quản trị nhân sự Theo tác giả Nguyễn Thị Minh An ( Bài giảng môn: quản trị nhân lực – Học viên bưu chính viễn thông), các hoạt động Quản trị nhân sự đƣợc phân chia theo 3 nhóm chức năng: *Nhóm chức năng thu hút nhân sự Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo cho doanh nghiệp có đủ nhân viên về số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng.
Muốn vậy doanh nghiệp phải tiến hành: kế hoạch hoá nhân sự; phân tích, thiết kế công việc, biên chế nhân sự, tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí nhân sự. * Nhóm chức năng đào tạo và phát triển nhân sự Nhóm chức năng này chú trọng các hoạt động nhằm nâng cao năng lực của nhân viên, đảm bảo cho nhân viên trong doanh nghiệp có các kỹ năng, trình độ lành nghề cần thiết để hoàn thành tốt công việc đƣợc giao và tạo điều kiện cho nhân viên đƣợc phát triển tối đa các năng lực cá nhân. Nhóm chức năng đào tạo, phát triển thƣờng thực hiện các hoạt động nhƣ: hƣớng nghiệp, huấn luyện, đào tạo kỹ năng thực hành cho công nhân; bồi dƣỡng nâng cao trình độ lành nghề và cập nhật kiến thức quản lý, kỹ thuật công nghệ cho cán bộ quản lý và cán bộ chuyên môn nghiệp vụ. *Nhóm chức năng duy trì nhân sự Nhóm chức năng này chú trọng đến việc duy trì và sử dụng có hiệu quả nhân sự trong doanh nghiệp.
Nhóm chức năng này bao gồm 3 hoạt động: đánh giá thực hiện công việc và thù lao lao động cho nhân viên, duy trì và phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp trong doanh nghiệp. Thông qua hệ thống thù lao lao động và phúc lợi một mặt thúc đẩy nhân viên làm việc hăng say, tận tình có ý thức trách nhiệm. Mặt khác, đây là những biện pháp hữu hiệu để thu hút và duy trì đƣợc đội ngũ lao động lành 6 nghề cho doanh nghiệp. Duy trì, phát triển các mối quan hệ lao động tốt đẹp vừa tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tập thể lành mạnh, vừa giúp cho nhân viên thoả mãn với công việc của mình.Vai trò của quản trị nhân sự Bất kỳ một doanh nghiệp nào khi tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh cũng đều phải hội đủ hai yếu tố, đó là nhân lực và vật lực.
Trong đó, nhân lực đóng vai trò cực kỳ quan trọng, có tính quyết định tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Một là, do sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trƣờng nên các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển buộc phải cải tiến tổ chức của mình theo hƣớng tinh giản gọn nhẹ, năng động, trong đó yếu tố con ngƣời mang tính quyết định. Con ngƣời - với kỹ năng, trình độ của mình, sử dụng công cụ lao động tác động vào đối tƣợng lao động để tạo ra sản phẩm hàng hoá cho xã hội. Quá trình này cũng đƣợc tổ chức và điều khiển bởi con ngƣời.
Con ngƣời thiết kế và sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ, kiểm tra chất lƣợng, đƣa sản phẩm ra bán trên thị trƣờng, phân bố nguồn tài chính, xác định các chiến lƣợc chung và các mục tiêu cho tổ chức. Không có những con ngƣời làm việc có hiệu quả thì mọi tổ chức đều không thể nào đạt đến các mục tiêu của mình. Hai là, sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật cùng với sự phát triển kinh tế buộc các nhà quản trị phải biết làm cho tổ chức của mình thích ứng. Do đó, việc thực hiện các nội dung hoạch định, tuyển dụng, duy trì, phát triển, đào tạo, động viên và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho con ngƣời thông qua tổ chức, nhằm đạt đƣợc mục tiêu đã định trƣớc là vấn đề quan tâm hàng đầu.
Ba là, quản trị nhân sự giúp cho nhà quản trị đạt đƣợc mục đích, kết quả thông qua ngƣời khác. Một quản trị gia có thể lập kế hoạch hoàn chỉnh, 7 xây dựng sơ đồ tổ chức rõ ràng, có hệ thống kiểm tra hiện đại chính xác, v.v…nhƣng nhà quản trị đó vẫn có thể thất bại nếu không biết tuyển đúng ngƣời cho đúng việc, hoặc không biết cách khuyến khích nhân viên làm việc. Để quản trị có hiệu quả, nhà quản trị cần biết cách làm việc và hòa hợp với ngƣời khác, biết cách lôi kéo ngƣời khác làm cho mình. Bốn là, quản trị nhân sự giúp cho các nhà quản trị học đƣợc cách giao dịch với ngƣời khác, biết tìm ra ngôn ngữ chung và biết nhạy cảm với nhu cầu của nhân viên, biết cách đánh giá nhân viên chính xác, biết lôi kéo nhân viên say mê với công việc, tránh đƣợc các sai lầm trong tuyển chọn, sử dụng nhân viên, biết cách phối hợp thực hiện mục tiêu của tổ chức và mục tiêu của các cá nhân, nâng cao hiệu quả của tổ chức và dần dần có thể đƣa chiến lƣợc con ngƣời trở thành một bộ phận hữu cơ chiến lƣợc kinh doanh của doanh nghiệp, góp phần nâng cao chất lƣợng và hiệu quả công tác của tổ chức.
Tóm lại, quản trị nhân sự đóng vai trò trung tâm trong quá trình điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp có thể tồn tại, phát triển và đi lên trong cạnh tranh. Vai trò trọng tâm này xuất phát từ vai trò của con ngƣời: con ngƣời là yếu tố cấu thành doanh nghiệp; bản thân con ngƣời vận hành doanh nghiệp và con ngƣời quyết định sự thắng bại của doanh nghiệp. Chính vì vai trò quan trọng của nhân sự nên quản trị nhân sự là một lĩnh vực quản trị quan trọng trong mọi doanh nghiệp. Những đặc trƣng cơ bản của kinh doanh khách sạn 1.
Khái niệm và các chức năng. Theo nhƣ khái niệm của ngành du lịch thì “kinh doanh khách sạn là một hình thức kinh doanh dịch vụ nhằm đáp ứng các nhu cầu về nghỉ ngơi, ăn uống, vui chơi giải trí và các nhu cầu khác của khách sạn du lịch trong thời 8 gian lƣu trú tạm thời” Theo Nguyễn Văn Mạnh và Hoàng Thị Lan Hƣơng (2013): “Kinh doanh khách sạn là hoạt động kinh doanh trên cơ sở cung cấp các dịch vụ lƣu trú, ăn uống và các dịch vụ bổ sung cho khách nhằm đáp ứng các nhu cầu ăn, nghỉ và giải trí của họ tại các điểm du lịch nhằm mục đích có lãi”. Kinh doanh khách sạn bao gồm các chức năng: chức năng sản xuất, chức năng lƣu thông và tổ chức tiêu thụ sản phẩm. Kinh doanh khách sạn vì mục tiêu thu hút đƣợc nhiều khách du lịch, thoả mãn nhu cầu của khách sạn du lịch ở mức độ cao, đem lại hiệu quả kinh tế cho ngành du lịch, cho đất nƣớc và cho chính bản thân khách sạn.
Vị trí của ngành kinh doanh khách sạn: là điều kiện không thể không có để đảm bảo cho du lịch tồn tại và phát triển, khách sạn là nơi dừng chân của khách trong hành trình du lịch của họ. Khách sạn cung cấp cho khách những nhu cầu thiết yếu (ăn uống, nghỉ ngơi…) và những nhu cầu vui chơi giải trí khác. Kinh doanh khách sạn tạo ra sức mạnh tổng hợp, góp phần đƣa ngành du lịch phát triển, tạo công ăn việc làm trong ngành, tạo nguồn thu ngoại tệ lớn cho ngành, là cầu nối giữa ngành du lịch với các ngành khác. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh khách sạn Nhu cầu của con ngƣời là vô tận, khi một nhu cầu nào đó đƣợc thoả mãn thì sẽ nảy sinh một nhu cầu khác ở mức độ cao hơn.
Cũng nhƣ học thuyết “Đẳng cấp nhu cầu” của Maslow đƣa ra nhận định về động cơ thúc đẩy con ngƣời, cho rằng khách hàng suy nghĩ trƣớc khi hành động thông qua quá trình ra quyết định hợp lý, Maslow đề cập đến năm phạm trù về nhu cầu tƣơng ứng với mức độ quan trọng đối với nhu cầu của con ngƣời nhƣ trong hình dƣới đây.1: Tháp bậc thang nhu cầu của Maslow Hình 1.1 cho thấy trong các nhu cầu của con ngƣời thì nhu cầu sinh lý là nhu cầu thiết yếu vì con ngƣời muốn tồn tại và phát triển thì cần phải ăn uống, có chỗ ở, quần áo mặc và thƣ giãn. Do vậy con ngƣời dù có đi du lịch hay không thì họ đều phải ăn uống và nghỉ ngơi.