Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác quản trị nhân lực - Chương 2: Phân tích thực trạng công tác quản trị nhân lực tại Công ty TNHH MTV Cơ khí 83(Nhà máy Z183). - Chương 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị nhân lực tại Công ty TNHH MTV Cơ khí 83(Nhà máy Z183). 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ NHÂN LỰC 1. Khái niệm, vai trò nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Khái niệm - Nhân lực: Nguồn lực con người, là một trong những nguồn lực quan trọng nhất của sự phát triển kinh tế và xã hội. - Nguồn lực của mỗi con người, gồm có thể lực và trí lực. Thể lực phụ thuộc vào tình trạng sức khoẻ của con người, mức sống, thu nhập, chế độ ăn uống, chế độ làm việc, nghỉ ngơi v. Trí lực là nguồn tiềm tàng to lớn của con người, đó là tài năng, năng khiếu cũng như quan điểm, lòng tin, nhân cách v.
Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước. - Nhân lực là một trong những nguồn lực quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào, vì vậy vấn đề sử dụng và quản lý nhân lực luôn được quan tâm hàng đầu. Vai trò - Nhân lực là nhân tố chủ yếu tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp: Nhân lực đảm bảo mọi nguồn sáng tạo trong tổ chức. Chỉ có con người mới sáng tạo ra các hàng hoá, dịch vụ và kiểm tra được quá trình sản xuất kinh doanh đó.
Mặc dù trang thiết bị, tài sản, nguồn tài chính là những nguồn tài nguyên mà các tổ chức đều cần phải có, nhưng trong đó tài nguyên nhân văn - con người lại đặc biệt quan trọng. Không có những con người làm việc hiệu quả thì tổ chức đó không thể nào đạt tới mục tiêu. - Nhân lực là nguồn lực mang tính chiến lược: Trong điều kiện xã hội đang chuyển sang nền kinh tế tri thức, thì các nhân tố công nghệ, vốn, nguyên vật liệu đang giảm dần vai trò của nó. Bên cạnh đó, nhân tố tri thức của con người ngày càng chiếm vị trí quan trọng: Nhân lực có tính năng 5 động, sáng tạo và hoạt động trí óc của con người ngày càng trở nên quan trọng.
- Xã hội không ngừng tiến lên, doanh nghiệp ngày càng phát triển và nguồn lực con người là vô tận. Nếu biết khai thác nguồn lực này đúng cách sẽ tạo ra nhiều của cải vật chất cho xã hội, thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người. Nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm - Nhân lực trong doanh nghiệp là tất cả mọi cá nhân tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.
Nó bao gồm các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo những mục tiêu nhất định. Nhân lực được coi là một nguồn vốn, một nguồn tài nguyên quý báu của doanh nghiệp. Do vậy nếu doanh nghiệp biết cách sử dụng và khai thác hợp lý thì đó là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp có thể tồn tại, cạnh tranh và phát triển được ở hiện tại và trong tương lai. Khả năng lao động của một người là khả năng đảm nhiệm, thực hiện, hoàn thành công việc, bao gồm các nhóm yếu tố: sức khỏe (nhân trắc, độ lớn và mức độ dai sức.), trình độ (kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm), tâm lý, mức độ cố gắng.
Vai trò - Nhân lực của doanh nghiệp là đầu vào quyết định chất lượng, chi phí, thời hạn của các sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp. Điều này hoàn toàn được khẳng định, bởi vì: +Tất cả các hoạt động của doanh nghiệp do con người thực hiện và quay lại phục vụ con người. + Con người phân tích dự báo nhu cầu thị trường, các đối thủ cạnh tranh, quyết định chiến lược, kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh (SXKD): sản phẩm - khách hàng với chất lượng và số lượng xác định. + Con người sáng tạo, vận hành máy móc thiết bị và không ngừng cải tiến, hiện đại hóa máy móc, thiết bị.
+ Con người xác định nhu cầu vốn, vật tư, lao động và đảm bảo các 6 đầu vào quan trọng. - Trong nền kinh tế hiện đại, các nhân tố công nghệ phát triển mạnh mẽ, có thể con người không trực tiếp tham gia các quá trình sản xuất, nhưng với sự tăng của hàm lượng chất xám trong từng sản phẩm, dịch vụ, nhân tố con người ngày càng trở nên quan trọng. Trước đây, hàm lượng chất xám trong các sản phẩm thấp, không đòi hỏi lao động có trình độ cao, kỹ năng tốt, do vậy lực lượng lao động không cần thiết phải qua các chương trình đạo tạo chuyên sâu mà đơn giản chỉ là các khóa học ngắn hạn để trang bị kiến thức cơ bản. Như vậy, trình độ lực lượng lao động thấp chỉ thích hợp với trình độ phát triển thấp của thiết bị, công nghệ và không thể có nền sản xuất với năng suất cao, chất lượng tốt.
- Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Từ năm 2006, Việt Nam đã gia nhập Tổ chức thương mại Thế giới WTO. Hơn bao giờ hết, nhân lực trở thành nguồn lực quan trọng nhất, quyết định sự phát triển của một quốc gia và từng doanh nghiệp. Nếu không sẽ là quá muộn, các doanh nghiệp Việt Nam cần chú trọng nâng cao chất lượng NNL để trong thời gian ngắn nhất có thể đóng vai trò chủ đạo trong việc thúc đẩy sự phát triển của từng doanh nghiệp và của nền kinh tế.
- Vai trò của nhân lực là rất lớn và có tính quyết định đến sự phát triển của từng doanh nghiệp và của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Tuy nhiên, để NNL của các doanh nghiệp Việt Nam phát huy tốt vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển, vấn đề đặt ra là NNL phải đạt tiêu chuẩn nhất định về số lượng và chất lượng. Xét trên khía cạnh vĩ mô, NNL mạnh mẽ còn bao gồm một cơ cấu ngành nghề với trình độ và phân bố NNL một cách hợp lý. Quản trị nhân lực 1.
Khái niệm - Nhân lực là một trong các nguồn lực quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Vì vậy vấn đề nhân lực luôn được quan tâm hàng đầu. Có rất nhiều cách phát biểu khác nhau về quản trị nhân lực: 7 + Theo giáo sư người Mỹ Dimock “Quản trị nhân lực bao gồm toàn bộ các biện pháp và thủ tục áp dụng cho nhân viên của một tổ chức và giải quyết tất cả các trường hợp xảy ra có liên quan tới một loại công việc nào đó”. + Còn giáo sư Felix Migro thì cho rằng: “Quản trị nhân lực là một nghệ thuật chọn lựa nhân viên mới và sử dụng các nhân viên cũ sao cho năng suất và chất lượng công việc của mỗi người đều đạt mức tối đa có thể”.
Vậy quản trị nhân lực được hiểu là một trong các chức năng cơ bản của quá trình quản trị, giải quyết tất cả các vấn đề liên quan tới con người gắn với công việc của họ trong bất cứ tổ chức nào. Quản trị nhân lực là một hoạt động vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật vì quản trị nhân lực là một lĩnh vực gắn bó nhiều đến văn hoá tổ chức và chứa đựng nhiều giá trị nhân văn hơn bất cứ một lĩnh vực quản trị nào khác. Vai trò của quản trị nhân lực - Yếu tố giúp ta nhận biết được một doanh nghiệp hoạt động tốt hay không hoạt động tốt, thành công hay không thành công chính là lực lượng nhân lực của nó- những con người cụ thể với lòng nhiệt tình và óc sáng kiến. Mọi thứ còn lại như: máy móc thiết bị, của cải vật chất, công nghệ kỹ thuật đều có thể mua được, học hỏi được, sao chép được, nhưng con người thì không thể.
Vì vậy có thể khẳng định rằng quản trị nhân lực có vai trò thiết yếu đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. - Trong doanh nghiệp quản trị nhân lực thuộc chức năng chính của nhà quản trị, giúp nhà quản trị đạt được mục đích thông qua nỗ lực của người khác. Các nhà quản trị có vai trò đề ra các chính sách, đường lối, chủ trương có tính chất định hướng cho sự phát triển của doanh nghiệp do đó nhà quản trị phải là người biết nhìn xa trông rộng, có trình độ chuyên môn cao. Người thực hiện các đường lối chính sách mà nhà quản trị đề ra là các nhân viên thừa hành, kết quả công việc hoàn thành tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của nhân viên, vì vậy cho nên có thể nói rằng: “mọi quản trị suy cho cùng cũng là quản trị con người”.
- Quản trị nhân lực góp phần vào việc giải quyết các mặt kinh tế xã hội của vấn đề lao động. Đó là một vấn đề chung của xã hội, mọi hoạt động 8 kinh tế nói chung đều đi đến một mục đích sớm hay muộn là làm sao cho người lao động hưởng thành quả do họ làm ra. - Quản trị nhân lực gắn liền với mọi tổ chức, bất kỳ một cơ quan tổ chức nào cũng cần phải có bộ phận nhân lực. Quản trị nhân lực là một thành tố quan trọng của chức năng quản trị, nó có gốc rễ và các nhánh trải rộng khắp nơi trong mọi tổ chức.
Quản trị nhân lực hiện diện ở khắp các phòng ban, bất cứ cấp quản trị nào cũng có nhân viên dưới quyền vì thế đều phải có quản trị nhân lực. Cung cách quản trị nhân lực tạo ra bầu không khí văn hoá cho một doanh nghiệp. Đây cũng là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành bại của một doanh nghiệp. - Quản trị nhân lực có vai trò to lớn đối với hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, nó là hoạt động bề sâu chìm bên trong doanh nghiệp nhưng lại quyết định kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Quản trị nhân lực trong doanh nghiệp 1. Khái niệm - Quản lý nhân lực là một quá trình tuyến mộ, lựa chọn, duy trì, phát triển và tạo mọi điều kiện cho nhân lực trong đơn vị phát huy một cách hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Quản lý nhân lực vừa là nghệ thuật vừa là khoa học làm cho những mong muốn của doanh nghiệp và mong muốn của nhân viên tương hợp với nhau và cùng đạt đến mục tiêu.