Chương 1. Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước đối với các dự án ĐTXDCB lệ thất nghiệp trong xã hội. - Phát triển lực lượng sản xuất và củng cố quan hệ sản xuất NSNN cho đầu tư XDCB tạo lập cơ sở vật chất kỹ thuật cho tăng trưởng và phát triển nền kinh tế, làm chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế, giải phóng và phân bổ hợp lý các nguồn lực sản xuất. Trên cơ sở đó, làm cho lực lượng sản xuất không ngừng phát triển cả về mặt lượng và chất.
Đồng thời, lực lượng sản xuất phát triển đã tạo tiền đề vững chắc cho củng cố quan hệ sản xuất. - Tăng cường xây dựng cơ sở vt chất k thut, phát triển kinh tế xã hội Với chức năng tạo lập, duy trì, phát triển hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội và phát triển kinh tế mũi nhọn, NSNN cho đầu tư XDCB đã làm phát triển nhanh hệ thống hàng hóa công cộng, tạo cơ sở vững chắc cho phát triển lực lượng sản xuất…Từ đó cơ sở vật chất của xã hội sẽ không ngừng được tăng cường, làm nên tiền đề vững chắc cho phát triển kinh tế đất nước. - Chủ động hội nhp kinh tế quốc tế, áp dụng nhanh các thành tựu tiến bộ khoa học để phát triển đất nước. Thông qua đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn có lợi thế so sánh quốc gia, NSNN cho đầu tư XDCB đã tạo điều kiện cho nền kinh tế tham gia phân công lao động quốc tế và áp dụng nhanh các thành tựu tiến bộ khoa học kỹ thuật của nhân loại thông qua nhập khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ tiên tiến.
Quá trình tham gia phân công lao động quốc tế và áp dụng nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật làm cho nền kinh tế chủ động trong hợp tác và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng. - Không ngng nâng cao năng lực quản l vĩ mô của Nhà nước. Từ vai trò chủ đạo của Kinh tế Nhà nước, NSNN cho đầu tư XDCB đã điều tiết đầu tư của toàn xã hội, tác động vào tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế cùng với hiệu ứng phản hồi sau tác động đã cung cấp kịp thời thông tin cho Nhà nước để điều chỉnh những tác động của mình. Thông qua điều chỉnh tác động vĩ mô theo yêu cầu thường xuyên biến đổi của thực tiễn làm cho năng lực quản lý của Nhà nước không ngừng được nâng cao.
Những yêu cầu đối với đầu tư t NSNN Đầu tư từ NSNN là để tạo nên những phương tiện cho Nhà nước thực hiện các ý tưởng đường lối điều chỉnh các quan hệ xã hội nhằm phục vụ hệ thống quản lý của mình. Yêu cầu này là quan trọng, vì nó liên quan đến việc bảo đảm cho Nhà nước có đủ điều kiện cần thiết để thực hiện chức năng nhiệm vụ của mình do nhân dân giao phó trước xã hội. Luận văn tốt nghiệp Trang|15 Chương 1. Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước đối với các dự án ĐTXDCB Vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN là một loại vốn đầu tư XDCB, do đó nó cũng mang đầy đủ các đặc điểm của vốn đầu tư XDCB nói chung.
Bên cạnh đó, việc quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN còn có những đặc điểm riêng. Những đặc điểm có tính chất cơ bản của vốn đầu tư XDCB từ NSNN gồm: - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản t NSNN thường có quy mô lớn: Vốn đầu tư của Nhà nước luôn chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (>30%), góp phần tạo ra cơ sở vật chất và phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tốc độ và quy mô tăng đầu tư xây dựng cơ bản đã góp phần quan trọng và tốc độ tăng GDP hàng năm, tăng tiềm lực kinh tế, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Vì vậy, quản lý và cấp vốn đầu tư XDCB phải thiết lập các biện pháp quản lý và cấp vốn đầu tư phù hợp nhằm đảm bảo tiền vốn được sử dụng đúng mục đích, không ứ đọng, thất thoát vốn, đảm bảo quá trình đầu tư xây dựng các công trình được thực hiện liên tục đúng kế hoạch và tiến độ đã xác định.
- Khả năng thu hồi vốn thấp hoặc không thể thu hồi vốn trực tiếp. Ở khía cạnh tài chính, khả năng hoàn vốn khó xác định, mà việc đánh giá hiệu quả dự án nhiều khi không chỉ phụ thuộc vào chỉ tiêu định hướng. - Diễn ra ở nhiu ngành, nhiu cấp quản l như: Trung ương, địa phương (tỉnh, huyện, xã). - Vốn đầu tư xây dựng cơ bản t Ngân sách Nhà nước phải giải quyết nhiu mục tiêu: Đặc điểm này dẫn đến tình trạng dàn trải, thiếu tập trung, đầu tư không dứt điểm do vốn đầu tư có hạn trong khi nhu cầu đầu tư cho các mục tiêu trong nền kinh tế rất lớn.
- Chủ đầu tư không phải là người sở hữu vốn đầu tư đích thực: Về nguyên tắc, chủ đầu tư phải là người sở hữu vốn đích thực, tuy nhiên đầu tư XDCB từ NSNN thì chủ đầu tư chỉ là người đại diện sở hữu quản lý và sử dụng vốn. Do vậy, đối với vốn đầu tư XDCB từ NSNN phải được quản lý chặt từ khâu đầu đến khâu cuối. - Vốn đầu tư của Nhà nước dễ bị thất thoát, lãng phí: Đây là đặc điểm hết sức chú ý, vì khi vốn đầu tư từ NSNN bị thất thoát, lãng phí không những gây thiệt hại về kinh tế mà có ảnh hưởng tiêu cực về mặt chính trị, làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân. Tình trạng tham nhũng, bớt xén tiền vốn của Nhà nước có thể làm nhiễu loạn xã hội, thay đổi các chủ trương đầu tư đúng đắn sang chủ trương đầu tư sai lầm.
- Được quản lý rất chặt chẽ: Luận văn tốt nghiệp Trang|16 Chương 1. Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước đối với các dự án ĐTXDCB Nhà nước quản lý toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lập thiết kế, dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàn giao và đưa công trình vào khai thác sử dụng. Người quyết định đầu tư có trách nhiệm bố trí đủ vốn theo tiến độ thực hiện dự án, không quá 3 năm đối với dự án nhóm C, không quá 5 năm đối với dự án từ nhóm B trở lên. Từ những đặc điểm trên đây cho thấy: Để quản lý có hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN cần phải có một quy trình quản lý giám sát chặt chẽ từ khầu đầu đến khâu cuối để chống lãng phí, thất thoát, tiêu cực.
Quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB sử dụng nguồn NSNN 1. Vai trò quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB sử dụng nguồn NSNN Đối với nước ta trong thời kỳ hiện nay, đầu tư nhằm thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động. Thực hiện thành công các mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ của từng quốc gia, từng ngành, từng địa phương. Huy động tối đa và sử dụng hiệu quả cao các nguồn vốn đầu tư, các nguồn tài lực vật lực của ngành, địa phương và toàn xã hội.
Sử dụng nguồn vốn NSNN một cách hợp lý, tiết kiệm và khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, đất đai, lao động và các tiềm năng khác, đồng thời bảo vệ môi trường sống, chống mọi hành vi tham ô, lãng phí trong sử dụng vốn NSNN và khai thác các kết quả của đầu tư. Quản lý nhà nước dự án đầu tư bằng nguồn vốn NSNN nói chung là hoàn thành các công việc dự án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt và theo tiến độ thời gian cho phép. Thực hiện đúng những quy định pháp luật và yêu cầu kinh tế – kỹ thuật trong lĩnh vực đầu tư. Quản lý nhằm đảm bảo cho các quá trình thực hiện đầu tư, xây dựng công trình theo đúng kế hoạch và thiết kế được duyệt, đảm bảo sự bền vững và mỹ quan, áp dụng công nghệ xây dựng tiên tiến, đảm bảo chất lượng và thời hạn xây dựng với chi phí hợp lý.
Nhằm thực hiện thuận lợi mục tiêu hoạt động, chiến lược phát triển của từng vùng, nâng cao hiệu quả sản xuất, hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao năng suất lao động, đổi mới công nghệ và tiết kiệm chi phí. Chính vì vậy, việc quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB sử dụng nguồn NSNN có vai trò hết sức quan trọng trong việc quản lý hiệu quả nguồn vốn. Việc phối hợp các nguồn lực một cách chặt chẽ giúp tránh tình trạng lãng phí nhân Luận văn tốt nghiệp Trang|17 Chương 1. Cơ sở khoa học của công tác quản lý nhà nước đối với các dự án ĐTXDCB lực, tiền của.
Đồng thời, việc quản lý cũng như quá trình giám sát, giúp các nhà quản lý có được sự điều chỉnh nhanh chóng, kịp thời cho quy trình phối hợp công viêc trong từng giai đoạn. Lý do quan trọng nhất của quản lý nhà nước đối với dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước là vốn đầu tư thuộc sở hữu nhà nước. Do đó, nhà nước cần phải quản lý để vốn đó được sử dụng đúng mục đích, tránh lãng phí, tham ô, thất thoát, bảo toàn giá trị của đồng vốn đầu tư. Quản lý nhà nước hình thành bộ máy dự án không phải là biện pháp bảo đảm chắc chắn kết quả quản lý vốn, chất lượng công trình tốt nhất mà chủ đầu tư mong muốn.
Tuy nhiên, có quản lý vẫn hơn, ở chỗ: - Nó gây áp lực cạnh tranh để các nhà thầu nghĩ nhiều hơn đến uy tín thương hiệu của nhà thầu, vì thế mà giảm thiểu lãng phí cũng như thất thoát. - Phần nào cũng cho phép chủ đầu tư tìm được các nhà thầu có năng lực phù hợp với dự án dự kiến đầu tư thông qua bộ máy. Nội dung công tác quản lý nhà nước đối với các dự án đầu tư XDCB sử dụng nguồn NSNN 1. Quản lý phê duyệt các dự án đầu tư XDCB Việc phê duyêt dự án, quyết định đầu tư xây dựng được thực hiện theo thông tư số 18/2016/TT-BXD ban hành ngày 30/06/2016, có hiệu lực thi hành từ 15/08/2016.