CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ TÀI CHÍNH THEO CƠ CHẾ TỰ CHỦ TRONG CÁC CƠ SỞ Y TẾ 1. Tổng quan lý luận về quản lý tài chính trong các cơ sở y tế 1. Khái quát chung về các cơ sở y tế Hệ thống y tế Việt Nam bao gồm cả y tế tư nhân và y tế Nhà nước, được cấu trúc theo khu vực và các tuyến khác nhau theo cấp quản lý. Bao gồm: Tuyến y tế Trung ương và tuyến y tế địa phương.
Bệnh viện công lập là đơn vị sự nghiệp có thu, do vậy đặc điểm hoạt động trước hết giống với các đơn vị sự nghiệp nói chung đồng thời cũng có những đặc điểm riêng của một đơn vị hoạt động có thu, ảnh hưởng quyết định đến cơ chế quản lý tài chính của đơn vị: - Bệnh viện công lập là một tổ chức hoạt động phi lợi nhuận, nguồn tài chính hoạt động chủ yếu từ ngân sách nhà nước với mục tiêu hoạt động đem lại cho người dân những dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt nhất với chi phí hợp lý nhất, mang tính chất phúc lợi xã hội; Chức năng hoạt động chủ yếu là KCB cho người dân, ngoài ra còn có chức năng đào tạo nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực y tế. - Bệnh viện công lập được tổ chức khoa học, các khâu khám bệnh, chẩn đoán, điều trị, chăm sóc được gắn kết chặt chẽ với nhau. Hoạt động của các bệnh viện công lập là một bộ phận của nền kinh tế và có vị trí quan trọng đặc biệt trong nền kinh tế quốc dân. Thực hiện các nhiệm vụ chính trị được giao như: KCB, chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ nhân dân, nghiên cứu và ứng dụng các kết quả khoa học vào chẩn đoán điều trị.
tham gia đề xuất và thực hiện các đề án, chương trình lớn phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Thông qua hoạt động thu viện phí theo quy định của Nhà nước đã góp phần tăng cường nguồn lực cùng với NSNN đẩy mạnh đa dạng hoá và xã hội hóa nguồn lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Thực hiện chủ trương xã hội hóa hoạt động sự nghiệp của Nhà nước, trong thời gian qua các bệnh viện công lập đã tích cực mở rộng các loại hình, phương thức hoạt động, một mặt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, mặt khác cũng thu hút sự đóng góp của nhân dân đầu tư cho sự phát triển của hoạt động sự nghiệp y tế, của xã hội. Khái niệm và đặc điểm của quản lý tài chính trong các cơ sở y tế 1.
Khái niệm quản lý tài chính trong các cơ sở y tế: Quản lý tài chính bệnh viện theo nghĩa rộng là sự tác động liên tục có hướng đích, có tổ chức của các nhà quản lý bệnh viện lên đối tượng và quá trình hoạt động tài chính của bệnh viện nhằm xác định nguồn thu và các khoản chi, tiến hành thu chi theo đúng pháp luật, đúng các nguyên tắc của Nhà nước về tài chính, đảm bảo kinh phí cho mọi hoạt động của bệnh viện. Tại Việt Nam, quản lý tài chính trong bệnh viện được định nghĩa là việc quản lý toàn bộ các nguồn vốn: NSNN cấp, viện trợ, và các nguồn vốn khác; tài sản, vật tư của bệnh viện để phục vụ nhiệm vụ KCB, đào tạo, nghiên cứu khoa học, chỉ đạo tuyến…Đảm bảo: Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách của bệnh viện; Có kế hoạch sử dụng hiệu quả cao NSNN cấp và các nguồn kinh phí; Tạo thêm nguồn kinh phí từ các dịch vụ y tế: Viện phí, BHYT, đầu tư nước ngoài, và các tổ chức kinh tế; Thực hiện chính sách ưu đãi và đảm bảo công bằng về KCB cho các đối tượng ưu đãi xã hội và người nghèo. Mục tiêu của quản lý tài chính bệnh viện: Duy trì cán cân thu chi: đây là điều kiện tiên quyết và bắt buộc của quản lý tài chính bệnh viện và cũng là tiêu chuẩn cho sự thành công trong cơ chế quản lý mới – tiến tới hạch toán chi phí và giá thành KCB; Cải thiện chất lượng thông qua một số chỉ tiêu chuyên môn như: tỉ lệ tử vong,… phát triển cơ sở vật chất, phát triển các chuyên khoa. Thực hiện công bằng y tế: chất lượng phục vụ như nhau cho toàn bộ các đối tượng; Nhân viên hài lòng với bệnh viện: đời sống cán bộ công nhân viên được cải thiện, cải thiện phương tiện làm việc, xây dựng văn hóa bệnh viện.
Đặc điểm quản lý tài chính trong các cơ sở y tế - Các cơ sở y tế hoạt động theo nguyên tắc cung cấp dịch vụ công thực hiện chức năng và các nhiệm vụ do Nhà nước giao là chính chứ không nhằm mục đích lợi nhuận như các doanh nghiệp trong nền kinh tế. Là tổ chức do Nhà nước thành lập thực hiện nghiệp vụ chuyên môn, cung cấp những dịch vụ công nhằm thoả mãn nhu cầu thiết 6 yếu của người dân. Hoạt động của đơn vị BV công lập luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế xã hội - Sản phẩm của đơn vị bệnh viện công lập là sản phẩm mang lại lợi ích chung, có tính bền vững và gắn bó hữu cơ với quá trình tạo ra của cải vật chất. Nội dung của quản lý tài chính theo cơ chế tự chủ trong các cơ sở y tế 1.
Khái niệm và vai trò của cơ chế tự chủ tài chính a. Khái niệm Trong lĩnh vực tự chủ tài chính, cách thức (cơ chế) vận hành các phạm trù tự chủ tài chính chịu sự tác động chi phối của hai nhân tố: Một là, các quy luật kinh tế, tài chính đã và đang tồn tại trong một môi trường kinh tế, tài chính nhất định. Hai là, sự phản ứng của con người trước sự vận động theo tính qui luật khách quan của các phạm trù kinh tế, tài chính. Hay nói cách khác là con người đưa ra những cách thức để hướng sự vận động của các phạm trù kinh tế, tài chính mang tính qui luật khách quan theo những yêu cầu chủ quan của mình.
Cơ chế tự chủ tài chính đơn vị sự nghiệp nói chung và cơ chế tự chủ đơnvị sự nghiệp y tế công lập nói riêng hiện nay được quy định tại Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của Chính phủ: “Cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công” là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công. Cơ chế tự chủ tài chính là cơ chế quản lý nhằm tăng cường quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp có thu về các mặt hoạt động tài chính, tổ chức bộ máy và sắp xếp lao động qua đó làm tăng chất lượng hoạt động cung cấp dịch vụ công của đơn vị. Cơ sở pháp lý về việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính ở đơn vị sự nghiệp y tế công lập Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát huy tinh thần sáng tạo, trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các đơn vị sự nghiệp công trong việc sử dụng tài sản, NSNN; nâng cao số lượng và chất lượng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công, cải thiện đời sống cho người lao động như Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với 7 đơn vị sự nghiệp công lập; làm cơ sở để xây dựng Nghị định quy định cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp trong từng lĩnh vực; Nghị định số 85/2012/NĐ-CP ngày 15/10/2012 về cơ chế hoạt động, cơ chế tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp y tế công lập và giá dịch vụ KCB của các cơ sở KCB công lập; Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Đối với giá các dịch vụ y tế do Nhà nước giao hoặc đặt hàng thực hiện theo quy định tại Quyết định số 39/2008/QĐ-TTg ngày 14/3/2008 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ sự nghiệp công sử dụng NSNN. Tiếp tục đổi mới cơ chế chính sách, ngày 14/02/ 2015, Chính phủ ban hành Nghị định 16/2015/NĐ-CP thay thế Nghị định 43/2006/NĐ-CP.
Từ thực tế triển khai thực hiện cho thấy, Nghị định 16/2015/NĐ-CP đã khắc phục được những hạn chế của Nghị định 43/2006/NĐ-CP, nâng cao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thúc đẩy hoạt động của các đơn vị cung cấp sự nghiệp công theo hướng chất lượng, hiệu quả, nâng cao số lượng, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ công, đáp ứng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ dịch vụ công của xã hội. Nghị định 16/2015/NĐ-CP đưa ra lộ trình tính đủ chi phí trong giá cung cấp dịch vụ công. Theo đó: đến năm 2016 tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp; đến năm 2018 tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp và chi phí quản lý; đến năm 2020 tính đủ chi phí tiền lương, chi phí trực tiếp, chi phí quản lý và chi phí khấu hao tài sản cố định. Tuy vậy, do lâu nay vẫn được nhà nước hỗ trợ qua giá cung cấp dịch vụ công nên khi chuyển sang cơ chế mới yêu cầu tính đủ chi phí trong giá cung cấp dịch vụ, nhiều cơ quan nhà nước chưa sẵn sàng cho việc thực hiện lộ trình này.
Hơn nữa, cũng cần có thời gian chuẩn bị tâm lý cho người dân về việc này nên thời điểm thực hiện điều chỉnh giá dịch vụ công có chậm hơn tiến độ yêu cầu. Vai trò cơ chế tự chủ tài chính trong các cơ sở y tế - Tạo lập vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nói chung và các cơ sở y tế nói riêng; Cân đối các nguồn thu nhằm đáp ứng các khoản chi trong các cơ sở y tế. Kiểm tra, giám sát tài chính, điều chỉnh, ngăn chặn các sai phạm, lành mạnh hóa và nâng cao hiệu quả các hoạt động tài chính. 8 - Thúc đẩy quá trình đa dạng hóa các loại hình, phương thức và hình thức của hoạt động sự nghiệp; Tạo môi trường thuận lợi cho các bệnh viện công lập phát triển.