phần mở đầu, phần kết luận-khuyến nghị và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của luận văn. Kết quả phân tích và điều tra. Giải pháp hoàn thiện.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA LUẬN VĂN ----oOo---- 1. Khoa học và nghiên cứu khoa học (1) Khoa học (science): Hiện nay có rất nhiều cách hiểu và khái niệm về khoa học xuất phát từ nhiều cách tiếp cận khác nhau: a) Khoa học là một hệ thống tri thức: - “Khoa học là hệ thống tri thức về mọi loại quy luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, tư duy”.17-19] - “Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới nầy, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp. Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về qui luật của vật chất và sự vận động của vật chất, những qui luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy.
Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội. Phân biệt ra 2 hệ thống tri thức: tri thức kinh nghiệm và tri thức khoa học. + Tri thức kinh nghiệm: là những hiểu biết được tích lũy qua hoạt động sống hàng ngày trong mối quan hệ giữa con người với con người và giữa con người với thiên nhiên. Quá trình nầy giúp con người hiểu biết về sự vật, về cách quản lý thiên nhiên và hình thành mối quan hệ giữa những con người trong xã hội.
Tri thức kinh nghiệm được con người không ngừng sử dụng và phát triển trong hoạt động thực tế. Tuy nhiên, tri thức kinh nghiệm chưa thật sự đi sâu vào bản chất, chưa thấy được hết các thuộc tính của sự vật và mối quan hệ bên trong giữa sự vật và con người. Vì vậy, tri thức kinh nghiệm chỉ phát triển đến một hiểu biết giới hạn nhất định, nhưng tri thức kinh nghiệm là cơ sở cho sự hình thành tri thức khoa học. 15 z + Tri thức khoa học: là những hiểu biết được tích lũy một cách có hệ thống nhờ hoạt động nghiên cứu khoa học, các họat động nầy có mục tiêu xác định và sử dụng phương pháp khoa học.
Không giống như tri thức kinh nghiệm, tri thức khoa học dựa trên kết quả quan sát, thu thập được qua những thí nghiệm và qua các sự kiện xảy ra ngẫu nhiên trong hoạt động xã hội, trong tự nhiên. Tri thức khoa học được tổ chức trong khuôn khổ các ngành và bộ môn khoa học (discipline) như: triết học, sử học, kinh tế học, toán học, sinh học.1] b) Khoa học là một hoạt động xã hội: “Ngày nay khoa học đã trở thành một hoạt động nghề nghiệp được xã hội hóa cao độ. Đó là một dạng hoạt động xã hội đặc biệt, hướng vào việc tìm kiếm những điều chưa biết, là một loại lao động gian khổ nhiều rủi ro. Với tư cách là một hoạt động xã hội, khoa học hướng tới những mục tiêu sau: - Phát hiện bản chất các sự vật, phát triển nhận thức về thế giới.
- Dựa vào quy luật đã nhận biết của sự vật mà dự báo quá trình phát triển của sự vật, lụa chọn hướng đi cho mình để tránh hoặc giảm thiểu các rủi ro. - Sáng tạo các sự vật mới phục vụ những mục tiêu tồn tại và phát triển bản thân con người và xã hội của con người.14] c) Khoa học là một hình thái ý thức xã hội: “Triết học xem khoa học là một hình thái ý thức xã hội. Với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, khoa học tồn tại mang tính độc lập tương đối với các hình thái ý thức xã hội khác. Khoa học phân biệt với các hình thái ý thức xã hội khác ở đối tượng và hình thức phản ánh và mang một chức năng xã hội riêng biệt.
Đây là một nhận thức có ý nghĩa quan trọng về phương pháp luận nghiên cứu khoa học, trong việc xử lý mối quan hệ phức tạp giữa khoa học với các hình thái ý thức xã hội khác nhau.15] d) Khoa học là một thiết chế xã hội: 16 z “Khoa học có thể sẽ là một thiết chế xã hội có ý nghĩa nhất trong xã hội hiện đại. Thiết chế ấy đang làm biến đổi đời sống và số phận con người trên thế giới này hơn bất kỳ một sự kiện chính trị hoặc tôn giáo nào.1-28] Với tư cách là một thiết chế xã hội, khoa học đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực hoạt động xã hội và thực hiện những chức năng của một thiết chế xã hội, đó là: - Định ra một khuôn mẫu hành vi, lấy tính khoa học làm thước đo, chẳng hạn tác phong làm việc khoa học, tổ chức lao động theo khoa học. - Xây dựng luận cứ khoa học cho các quyết định trong sản xuất, kinh doanh, tổ chức xã hội. - Tăng hàm lượng khoa học trong công nghệ và sản phẩm nhằm tạo thế mạnh cạnh tranh cho sản phẩm.
- Khoa học ngày càng trở thành một phương tiện góp phần làm biến đổi tận gốc rễ mọi mặt của đời sống xã hội.18] (2) Nghiên cứu khoa học (scientific research) a) “Nghiên cứu khoa học là sự phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để làm biến đổi sự vật phục vụ cho mục tiêu hoạt động của con người. Về mặt thao tác có thể định nghĩa nghiên cứu khoa học là quá trình hình thành và chứng minh luận điểm khoa học về một sự vật hoặc hiện tượng cần khám phá.35] b) “Nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm. Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm NCKH để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường.1] c) Đinh Tuấn Hải, Trƣờng Đại Học Quốc Gia Yokohama, cho rằng: “Hiện nay, trong giới học thuật vẫn có tranh luận và chưa thống nhất về việc xác định thế nào là 17 z một nghiên cứu khoa học.
Việc xác định rõ định nghĩa này là rất quan trọng đối với những người mới bắt đầu sự nghiệp nghiên cứu, đặc biệt là sinh viên. Mọi người đều nói về cái “mới”, rằng phải nghiên cứu một vấn đề mới thì mới đúng là một nghiên cứu khoa học. Nếu như vậy thì sẽ có câu hỏi được đặt ra là: Làm một vấn đề cũ thì sao và thế nào là một vấn đề mới?” Ông nhận thấy có rất nhiều nghiên cứu về một vấn đề cũ nhƣng vẫn có giá trị, đƣợc áp dụng tốt trong thực tế sản xuất và đƣợc chấp nhận đăng trên nhiều tạp chí và hội thảo khoa học quốc tế. Trong khi đó có nhiều nghiên cứu tự nhận là cho những vấn đề mới nhƣng lại không thu hút đƣợc quan tâm của mọi ngƣời và thƣờng kết thúc trong im lặng.
Có nhiều nguyên nhân cho sự thất bại của các nghiên cứu đƣợc cho là có chủ đề mới, hoặc là vấn đề mới nhƣng không có giá trị thực tế nên rất ít ngƣời muốn nghiên cứu, hoặc cái mới này chỉ có thể áp dụng sau nhiều năm nữa nên hiện tại không ai quan tâm, hoặc vấn đề mới quá khó hiểu đối với đồng nghiệp, hoặc dẫu là mới nhƣng kết quả nghiên cứu không đạt yêu cầu, v.v… Ông đã đƣa ra một số tiêu chí cụ thể để có một định nghĩa sơ lƣợc thế nào là một nghiên cứu khoa học. Vậy một nghiên cứu khoa học cần đáp ứng ít nhất một trong các yêu cầu dƣới đây: - Phát hiện điều mới trong các quy luật và đặc tính của tự nhiên hoặc của xã hội. - So sách giữa hai hoặc nhiều hiện tƣợng của tự nhiên hoặc của xã hội để chỉ ra sự giống nhau và khác nhau giữa chúng. - Tìm kiếm phƣơng pháp để giải quyết các khó khăn, trục trặc đang cản trở sự phát triển của tự nhiên và xã hội.
- Thay đổi hoặc lợi dụng các hiện tƣợng tự nhiên hoặc xã hội để phục vụ tốt hơn cho con ngƣời và môi trƣờng xung quanh. - Nghiên cứu các hiện tƣợng, công việc đã xảy ra, thực hiện trong quá khứ để rút ra bài học cho hiện tại và tƣơng lai. - Dự đoán tƣơng lai để có các hành động phù hợp trong hiện tại. 18 z d) Luật Khoa học và Công nghệ định nghĩa: “Nghiên cứu khoa học là hoạt động phát hiện, tìm hiểu các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo các giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn.” e) Nghiên cứu khoa học đƣợc phân loại theo các giai đoạn nghiên cứu, bao gồm các hoạt động theo hình 1.
Nghiên cứu Nghiên cứu cơ cơ bản bản thuần túy Nghiên cứu tổng thể Nghiên cứu cơ 2. Nghiên cứu bản định hướg Nghiên cứu ứng dụng chuyên đề Tạo vật mẫu (Prototype) Lưu ý: 3. Triển khai Tạo quy trình Triển khai = thực nghiệm s/x vật mẫu Technological Experimental Sản xuất thử Development, gọi Série Nº 0 tắt là Development Hình 1.1: Các giai đoạn nghiên cứu [2, tr. Đề tài nghiên cứu khoa học (1) Đề tài: Theo giáo trình phƣơng pháp luận nghiên cứu khoa học của Vũ Cao Đàm, đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học, trong đó có một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời cùng thực hiện một nhiệm vụ nghiên cứu.
Đề tài đƣợc lựa chọn từ một sự kiện khoa học. Đề tài là một hình thức tổ chức nghiên cứu khoa học do một ngƣời hoặc một nhóm ngƣời thực hiện. Một số hình thức tổ chức nghiên cứu khác không hoàn toàn mang tính chất nghiên cứu khoa hoc, chẳng hạn nhƣ: Chƣơng trình, dự án, đề án. Sự khác biệt giữa các hình thức nghiên cứu khoa học nầy nhƣ sau: 19 z - Đề tài: đƣợc thực hiện để trả lời những câu hỏi mang tính học thuật, có thể chƣa để ý đến việc ứng dụng trong hoạt động thực tế.
- Dự án: đƣợc thực hiện nhằm vào mục đích ứng dụng, có xác định cụ thể hiệu quả về kinh tế và xã hội. Dự án có tính ứng dụng cao, có ràng buộc thời gian và nguồn lực.